Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Nghiên Cứu Một Số Yếu Tố Công Nghệ Tạo Ván Từ Vỏ Bánh Xe Máy Phế Liệu Dăm Gỗ Cao Su Có Phủ Mặt Bằng Ván Mỏng Để Sản Xuất Đồ Mộc
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN PHONG PHÚ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ TẠO VÁN TỪ
VỎ BÁNH XE MÁY PHẾ LIỆU, DĂM GỖ CAO SU CÓ PHỦ
MẶT BẰNG VÁN MỎNG ĐỂ SẢN XUẤT ĐỒ MỘC
KỸ THUẬT MÁY, THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ GỖ, GIẤY
60.52.24
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÝ TUẤN TRƯỜNG
Hà Nội - 2012
1
MỞ ĐẦU
Hàng năm, mỗi quốc gia thải ra hàng triệu vỏ xe các loại, như vậy trên
toàn thế giới mỗi năm có hơn 1 tỷ vỏ xe phế liệu các loại. Đây thực sự là
thách thức lớn cho môi trường sống của con người. Hầu hết chất thải từ cao
su rất khó phân hủy, phải mất khoảng vài chục năm nó mới có khả năng phân
hủy vào trong đất. Lượng vỏ xe phế thải mỗi năm lại tăng lên đáng kể vì
phương tiện đi lại của con người chủ yếu vẫn là các loại xe. Cuộc sống càng
hiện đại thì nhu cầu cho sự di chuyển ngày càng tăng dẫn đến vỏ xe bị vứt đi
ngày càng nhiều. Dẫn đầu về số lượng vỏ xe phế thải là: Bắc Mĩ, các nước
Tây Âu, Viễn Đông.
Với tình hình vỏ xe phế thải như hiện nay không cho phép chúng ta cứ
mặc sức thải ra môi trường và chờ đợi vài chục năm mới phân hủy. Ngành
công nghệ tái sử dụng vỏ xe phế liệu ra đời rất sớm. Từ trước những năm
1960, khi giá dầu mỏ còn rẻ và sự nghiền tách thép còn gặp nhiều khó khăn,
những lợi nhuận kinh tế ngắn hạn được tập trung vào sự tận dụng những vỏ
xe phế liệu. Người ta sử dụng những vỏ xe làm nhiên liệu đốt. Nhưng thực
tiễn đã có những hậu quả trái ngược đối với sức khỏe của con người và môi
trường, gia tăng sự ô nhiễm.
Việc sử dụng cao su vỏ xe phế liệu để làm một số sản phẩm sẽ có giá
thành rẻ hơn cao su mới. Ví dụ như dùng vỏ xe phế liệu làm những sản phẩm
như nhựa rải đường và lớp lót cho những bề mặt sân vườn có thể tăng tính an
toàn trong khi sử dụng và giá thành rẻ hơn so với vật liệu truyền thống. Tái sử
dụng vỏ xe phế liệu với những phương pháp khác nhằm tận dụng các nguồn
cao su cũng gia tăng đáng kể trong quá khứ.
2
Có nhiều cách khác nhau để tái sử dụng lại phế liệu nhưng những cách
này đều nhằm mang lại lợi ích về kinh tế và môi trường sống cho con người
để ngăn ngừa sự vứt bỏ những vỏ xe phế liệu. Tuy nhiên, cho đến nay lượng
vỏ xe được tái sử dụng không nhiều, trên thực tế đi đâu ta cũng thấy những
núi vỏ xe cao su không còn sử dụng cho xe cộ nữa. Vì vậy nghiên cứu sử
dụng vỏ cao su phế liệu cần phải được nghiên cứu để tái sử dụng theo những
hướng khác những cách hiện đang được sử dụng. Chúng tôi đề xuất đề tài:
“Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ tạo ván từ vỏ bánh xe máy phế liệu,
dăm gỗ cao su có phủ mặt bằng ván mỏng để sản xuất đồ mộc.”
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ VÁN DĂM
1.1.1. Lịch sử phát triển công nghiệp ván dăm
Ván dăm được tạo ra từ ý tưởng tận dụng phế liệu mạt cưa, gỗ vụn
trong cưa xẻ gỗ, trộn với keo để tạo ra tấm ván lớn đã được hình thành vào
khoảng cuối thế kỷ XIX. Đến đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học Anh, Đức đã
đề xuất công nghệ sản xuất ván dăm và tạo ra được sản phẩm dạng tấm với
lớp lõi là gỗ vụn, mạt cưa, lớp ngoài là ván bóc. Tuy nhiên, sản phẩm này lúc
đầu không được chú ý lắm. Và phải đến gần giữa thế kỷ XX mới được giới
nghiên cứu quan tâm trở lại. Khoảng năm 1935 – Sansonow nghiên cứu ván
dăm có kích thước dăm dài xếp lớp như ván dán, là cơ sở ban đầu cho ván
dăm định hướng sau này. Năm 1936 – E.C. Loetscher đã tiến hành nghiên cứu
các thông số sản xuất ván dăm và hệ thống thiết bị đồng bộ. Năm 1936 – 37
xưởng ván dăm đầu tiên trên thế giới mới được xây dựng tại Đức, có tên là
Torfit. Nguyên liệu sản xuất là mạt cưa gỗ vụn và keo phenol. Năm 1938 Tiệp
Khắc xây dựng xưởng ván dăm Dias. Năm 1941 Thụy Điển, Pháp… cũng
phát triển loại hình sản phẩm này. Năm 1942 – Công ty Farley – Loetscher
xây dựng nhà máy ván dăm đầu tiên ở Mỹ. Sản phẩm của công ty này có tên
Loctex (ván không phủ mặt) Và Faloctex (ván có phủ mặt). Khối lượng thể
tích của ván từ 0,7 – 1,8 g/cm3
Nhưng ngành công nghiệp ván dăm trên thế giới chỉ thực sự phát triển
sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc. Trong vòng 5 năm, từ 1952 đến
1957 sản lượng ván dăm trên thế giới tăng hơn 10 lần. Và phát triển liên tục
từ đó đến nay.
Tại Liên Xô, sản phẩm ván dăm phát triển chậm. Mãi đến năm 1955 –
một xưởng sản xuất ván dăm nhỏ lần đầu tiên được đưa vào hoạt động tại nhà
4
máy gỗ dán xây dựng UFA. Sản phẩm ván dăm có khối lượng thể tích thấp
(400 kg/m3
), không đáp ứng các yêu cầu về độ bền. Sản xuất công nghiệp ván
dăm của Nga chỉ thực sự bắt đầu vào năm 1957 khi hai dây chuyền ép ván
kiểu liên tục BARTREV đặt mua của Anh bắt đầu hoạt động. Từ năm 1959
đến 1990, có 40 dây chuyền công suất 25.000 m3
/năm, thiết bị nội địa đã
được chế tạo. Nhưng mãi đến năm 1965, dây chuyền đầu tiên ở Подрезково
(quận Химкински) Москвa, mới đạt công suất thiết kế). Sau thời gian đó,
công nghiệp ván dăm tại Nga được tổ chức sản xuất trên 51 dây chuyền. Tuy
nhiên, do kỹ thuật lỗi thời, thiết bị dư thừa cũng như tình hình kinh tế Nga
làm cho một vài nhà máy sản xuất không hiệu quả, nên mức sản xuất ván dăm
giảm nhiều và chỉ đạt 2 triệu m3 năm 1998.
Nhưng hiện nay sản xuất ván dăm ở Nga đã khác do kỹ thuật mới được
áp dụng. Năm 2003: có 38 dây chuyền với công suất thiết kế: 3.868.000 m3
,
công suất thực tế: 3.176.000 m3
. Năm 2004: 38 dây chuyền với công suất thiết
kế: 4.011.000 m3
, công suất thực tế: 3.626.000 m3
; Năm 2005: lắp đặt 39 dây
chuyền, công suất thiết kế: 4.098.000 m3
, công suất thực tế: 3.930.000 m3
.
Năm 2006: lắp 44 dây chuyền, công suất thiết kế: 5.275.000 m3
, công suất
thực tế: 4.717.000 m3
. Năm 2007: 45 dây chuyền, công suất thiết kế:
6.209.000 m3
; công suất thực tế: 5.170.000 m3
(Tóm tắt theo Wood- Based
and Their Future – A.LEONOVICH & A.VOROPAEV)
Năm 2007 nước Nga đã sản xuất 7,2 triệu m3 gỗ ván nhân tạo, không
kể gỗ dán. Riêng ván dăm sản lượng lên tới 5.170.000 m3
, trong khi công suất
thiết kế là 6.209.000 m3
. Sở dĩ như vậy vì ván dăm là loại ván nhân tạo hàng
đầu ở Nga. Trong khi trên thế giới sản phẩm ván nhân tạo lại chủ yếu tập
trung vào loại ván OSB và MDF.
5
1.1.2. Sản xuất ván dăm ở Việt Nam
Ván dăm xuất hiện ở Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ
trước, nhưng không phát triển. Năm 1972 một dây chuyền sản xuất ván dăm
có công suất 1000m3
/năm của Cộng hòa dân chủ Đức viện trợ được lắp đặt tại
Quảng Ninh. Năm 1974 dây chuyền ván dăm do Thụy Điển viện trợ cũng có
công suất 1000m3
/năm lắp đặt tại Việt Trì. Cả hai dây chuyền này đều có
chung một đặc điểm là không đưa được sản phẩm ra thị trường. Cũng vào thời
điểm này, ở miền Nam, tại Tân Mai, Biên Hòa một dây chuyền sản xuất ván
dăm theo phương pháp ép đẩy đã lắp đặt nhưng chưa đưa vào hoạt động. Trên
thực tế, đến những năm 80 của thế kỷ XX ngành sản xuất ván dăm của Việt
Nam vẫn ở mức không. Chỉ từ những năm 1990, ván dăm ở Việt Nam mới
được chú ý sản xuất và liên tục phát triển cho đến nay. Năm 1994, Nhà máy
đường Hiệp Hòa – Long An lắp đặt phân xưởng sản xuất ván dăm với máy và
thiết bị nhập toàn bộ từ Trung Quốc. Năm 1995 tổ chức sản xuất sản phẩm
ván dăm từ phế liệu bã mía, sản lượng 5000m3
, và đến năm 1998 sản lượng
được nâng lên 8500 m3
/năm sử dụng thêm nguyên liệu gỗ điều và bạch đàn.
Đến năm 2005 nhà máy đường La Ngà – Đồng Nai, tổ chức lắp đặt dây
chuyền máy thiết bị sản xuất ván dăm từ bã mía nhập đồng bộ từ Trung Quốc
có công suất 5000 m3
/năm và tiến hành sản xuất vào năm 2007. Cũng năm
2007, Tổng công ty Lâm Nghiệp Việt Nam đưa dây chuyền ván dăm gỗ nhập
từ Trung Quốc, lắp đặt tại Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
đi vào sản xuất. Những nhà máy nêu trên đều hoạt động có hiệu quả, chất
lượng sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra các công ty ở
nhiều địa phương trong cả nước cũng lắp đặt các dây chuyền sản xuất ván
dăm với quy mô nhỏ từ 1.000 – 3.500 m3
/năm như: công ty chế biến lâm sản
Đắc Lắc, công ty chế biến gỗ Hòa Bình (Kon Tum), nhà máy ván dăm Hương
Quỳnh (Bình Dương), công ty Hiệp Nguyên (Bình dương), công ty Lâm
6
nghiệp U Minh Thượng (Cà Mau), công ty ván dăm Tân Phú (Đồng Nai),
công ty chỉ xơ dừa 25/8 (Bến Tre )… đưa tổng sản lượng ván dăm Việt Nam
từ 20.000 m3
/năm 1995 tăng lên 200.000 m3 năm 2010.
1.1.3. Sản lượng và nhu cầu sử dụng ván dăm trên thế giới (dự báo của
BIS Shrapnel)
Sản lượng ván dăm toàn thế giới dự báo tăng từ 69,9 triệu m3
trong năm
2009 lên 84,1 triệu m3 vào năm 2013. Năm 2009 sản lượng ván dăm sản xuất
tại các khu vực trên thế giới như sau: Châu Âu 62%; Bắc Á 14%; Bắc Mỹ
9%; Nam Á 8%; Nam Mỹ 6%; Úc 1%.
Sản lượng ván dăm của Châu Âu được dự báo giảm nhẹ vào năm 2013
còn khoảng 60% sản lượng ván dăm thế giới. Trong khi đó dự báo tại khu vực
Bắc Mỹ và Nam Á sản lượng ván dăm tăng nhẹ khoảng 9%, còn Nam Mỹ là
7%. Sản lượng ván dăm tại Bắc Á và Úc được dự báo là không thay đổi vào
năm 2013.
Do cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009, lượng tiêu thụ ván dăm
giảm 5%; nhưng tăng nhẹ 3% vào năm 2010; dự báo lượng tiêu thụ tăng 8%
năm 2011 và giảm nhẹ xuống còn 5% vào năm 2013. Mức tiêu thụ trung bình
mỗi năm sẽ tăng trưởng 6% trong giai đoạn 2010 – 2013.
7
Hình 1.1: Sản lượng ván dăm trên toàn thế giới năm 2009
1.1.4. Nguyên liệu sản xuất ván dăm
Nguyên liệu sản xuất ván dăm truyền thống và chủ yếu là gỗ. Nhưng nhu
cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng trong khi khả năng cung cấp gỗ từ rừng ngày
càng hạn chế nên từ những năm đầu thế kỷ XX các nhà khoa học đã thực hiện
những nghiên cứu sử dụng thực vật ngoài gỗ để sản xuất ván nhân tạo. Tổng
khối lượng thực vật ngoài gỗ và phế liệu nông nghiệp được sử dụng để sản
xuất ván nhân tạo và giấy trên thế giới năm 2006 khoảng hơn 2.281,4 triệu
tấn. Trong đó chủ yếu là nguyên liệu sản xuất giấy và ván sợi. Công nghệ sử
dụng nguyên liệu từ thực vật có sợi và phế liệu nông nghiệp để sản xuất ván
nhân tạo được nhiều nước nghiên cứu, triển khai ứng dụng. Một số loại ván
dăm sản xuất từ các nguyên liệu thực vật khác nhau của các nước như sau:
Ván dăm bã mía ( Trung Quốc, Brazil, Malaysia, Thái Lan...): công nghệ
sản xuất ván dăm bã mía của các nước hầu hết đều giống nhau, nhưng so với
công nghệ sản xuất ván dăm từ gỗ có một số công đoạn khác biệt: ván dăm bã
mía sử dụng bã mía không cần công đoạn cắt ngắn và xử lý nguyên liệu thô.
Nhưng lại thêm công đoạn khử tủy và ủ cho đường còn trong bã mía tự phân
hủy. Thông thường sau giai đoạn ủ, bã mía biến màu hơi sẫm, nhưng sự biến
8
màu này làm cho ván dăm có ngoại quan đẹp hơn. Sau khi ủ bã từ 1 – 3 tháng
chất lượng sợi trong bã mía có giảm, nhưng lượng đường dư không còn nên
thuận lợi cho quá trình ép ván.
Ván vỏ lạc (Trung Quốc, Bắc Mỹ, Nhật...): Vỏ lạc được nghiền trên các
máy nghiền dăm gỗ với kích thước lưới thoát dăm được điều chỉnh thích hợp
với kích thước dăm cần sử dụng. Một phần vỏ lạc được tách các sợi thô và xe
lại thành sợi dài, đan lưới để tạo lớp lõi sản xuất vật liệu composit. Trong
trường hợp sản xuất ván dăm thông dụng, công nghệ tiến hành giống như sản
xuất ván dăm gỗ nhưng khi nghiền dăm cần sử dụng lưới thoát dăm hình chữ
nhật để tạo dăm có chiều dài và không cần máy băm dăm.
Ván dăm từ trấu: được các nước Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Trung
Quốc nghiên cứu, nhưng chưa thấy sản phẩm xuất hiện trên thị trường Việt
Nam.
Nhìn chung, công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ thực vật có sợi và phế
liệu nông nghiệp dựa trên cơ sở công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ nguyên
liệu gỗ. Nhưng xử lý kỹ thuật ở từng công đoạn và thông số công nghệ tạo
ván đối với mỗi loại nguyên liệu cụ thể đều có sự khác biệt. Ở các nước có
công nghệ ván nhân tạo phát triển như Liên Xô, Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Hàn
Quốc, Trung Quốc… đều đã có nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ sản xuất
đối với sản phẩm sản xuất từ mỗi loại nguyên liệu cụ thể. Đối với những
nguyên liệu dạng sợi mềm, máy và thiết bị phải có cấu tạo và đặc tính kỹ
thuật phù hợp. Khi phối hợp những nguyên liệu có đặc tính công nghệ không
giống nhau cần có sự nghiên cứu đầy đủ các yếu tố công nghệ, cũng như máy
và thiết bị đáp ứng những yêu cầu xử lý kỹ thuật và công nghệ tạo sản phẩm
từ nhóm nguyên liệu cụ thể.
Ở Việt Nam nghiên cứu nguyên liệu ngoài gỗ và phế liệu nông nghiệp
để sản xuất ván dăm được nhiều người nghiên cứu. Nghiên cứu sản xuất ván