Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Luận văn Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đó cổ phần hóa ở tỉnh
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
1
Luận văn
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở
đảng trong doanh nghiệp nhà nước
đó cổ phần hóa ở tỉnh Quảng Bình
trong giai đoạn hiện nay
2
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
nền tảng kinh tế - xã hội của đất nước để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội và củng cố khối liên minh công nông. Tuy vậy, bước sang
thời kỳ đổi mới, các doanh nghiệp nhà nước đã dần dần bộc lộ những yếu
kém về phương thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, chất lượng sản
phẩm, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Trong quá trình đổi mới đất nước đòi hỏi phải đổi mới các doanh
nghiệp nhà nước. Cổ phần hoá (CPH) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta nhằm sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Đi
cùng với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các tổ chức chính trị,
xã hội trong doanh nghiệp, mà trước hết là tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) trong
các doanh nghiệp đã cổ phần hoá cần phải có sự chuyển đổi, củng cố, nâng
cao năng lực để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các doanh nghiệp
nhà nước đã cổ phần hoá.
Quảng Bình là tỉnh nghèo ở miền Trung, còn gặp nhiều khó khăn về
kinh tế. Khi bước vào đổi mới có 150 doanh nghiệp nhà nước do tỉnh và
huyện quản lý, đến nay còn lại hơn 50 doanh nghiệp nhà nước. Đã có 30
doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá. Trong đó: 02 doanh nghiệp có vốn
nhà nước chi phối trên 50%, 01 doanh nghiệp có vốn nhà nước 49%, 27
doanh nghiệp không có vốn nhà nước và có 02 doanh nghiệp đang tiếp tục cổ
phần hoá, cùng với 1.103 doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn.
Thời gian qua, một số tổ chức đảng trong các doanh nghiệp này đã tìm
cách đổi mới tổ chức, hoạt động cho phù hợp với tình hình sau khi thực hiện
cổ phần hoá, bước đầu củng cố và bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng
3
trong doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung, tổ chức đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước sau khi cổ phần hoá ở Quảng Bình vẫn còn lúng túng về tổ chức,
nội dung, phương thức hoạt động; đảng viên nắm giữ cổ phần ít, bị hạn chế về
quyền sở hữu nên không được tham gia trong hội đồng quản trị, hoặc tiếng
nói ít trọng lượng trong các cuộc họp đại hội đồng cổ đông. Nhiều nơi vai trò
lãnh đạo của tổ chức đảng bị giảm sút.
Thực tế đó đòi hỏi các cấp ủy đảng có trách nhiệm ở Quảng Bình phải
quan tâm xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá, đồng thời phải có những nghiên cứu
khoa học về loại hình tổ chức cơ sở đảng đó để làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong
doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá.
Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng, củng cố
tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đó cổ phần hóa ở tỉnh
Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay " có tính cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá là một thực tiễn mới mẻ, đặt ra nhiều vấn
đề phải được làm rõ về nhận thức, quan điểm, giải pháp. Bởi vậy, trong những
năm gần đây đã có một số cơ quan và nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn
quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, một số công trình, bài viết đã được công
bố, như:
- Phạm Đạo (2000), Tổ chức đảng trong các công ty cổ phần, Báo
Nhân dân, 9-6-2000;
4
- Ngô Tùng Chinh (2005), Củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh
nghiệp cổ phần hoá, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5 năm 2005;
- Hội thảo khoa học: "Phát huy vai trò lãnh đạo của đảng đối với tiến
trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước", Tạp chí cộng sản số: 104
năm 2006;
- Nguyễn Phi Long (2005), Nâng cao hiệu lực lãnh đạo của tổ chức đảng
trong các công ty cổ phần có vốn Nhà nước, Báo Nhân dân, ngày 29-3-2005;
- Đặng Thuỳ Dương (2005), Nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong
các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá tại thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
Từ các cách tiếp cận khác nhau, những công trình nêu trên đã nghiên
cứu và đề xuất nhiều giải pháp củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần
hoá. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu vẫn chỉ là bước đầu và chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục tiêu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới hoạt động của tổ
chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng
Bình trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
5
- Làm rõ vai trò, đặc điểm và quan niệm xây dựng, củng cố tổ chức cơ
sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Đánh giá đúng thực trạng tổ chức cơ sở đảng và công tác xây dựng,
củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá
ở Quảng Bình, rút ra nguyên nhân và kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp kiện toàn, đổi mới hoạt động để xây
dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hoá ở Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xây dựng, củng cố tổ
chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh Quảng
Bình.
- Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp
nhà nước đã cổ phần hoá do Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh Quảng Bình
quản lý từ năm 2000 đến nay (kể từ khi có Phương án 812/UB ngày 8-8-2000
về sắp xếp doanh nghiệp nhà nước) và công tác xây dựng, củng cố các tổ
chức đảng. Phương hướng và giải pháp xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng
này đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta qua các nghị
quyết của Đảng từ Đại hội VI đến nay, đặc biệt là quan điểm của Đảng trong
Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX “về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Luận văn kế thừa kết quả nghiên
cứu của các công trình khoa học đã công bố.
6
- Cơ sở thực tiễn của luận văn là hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng
trong doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Quảng Bình và công tác xây
dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng này của các cấp uỷ đảng ở Quảng Bình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của MácLênin, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Luận văn sử dụng kết hợp
các phương pháp tổng kết thực tiễn, lịch sử - lôgíc, nghiên cứu tài liệu, điều
tra, chuyên gia...
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Xác định rõ đặc điểm, vai trò và quan niệm xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Đánh giá đúng thực trạng và việc xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở
đảng trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi để xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở Quảng Bình.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo về lý luận và thực tiễn cho
việc kiện toàn, đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp
nhà nước sau cổ phần hoá của các cấp uỷ đảng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, học tập
môn Xây dựng Đảng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
7
8
Chương 1
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng
trong Doanh nghiệp Nhà nước đã Cổ phần hoá
ở Tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn
1.1 Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá và tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở tỉnh Quảng Bình
1.1.1. Tình hình các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá ở
Quảng Bình
1.1.1.1. Khái quát về quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cuối năm 1992, số lượng doanh nghiệp nhà nước trong cả nước lên đến
12.000 doanh nghiệp. Trong tiến trình thực hiện đổi mới, doanh nghiệp nhà
nước đã dần bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý, sản xuất kinh doanh, trong
cạnh tranh trên thị trường quốc tế... Những yếu kém của doanh nghiệp nhà
nước trở thành những thách thức gay gắt trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế.
Đảng và Nhà nước đã có hàng loạt biện pháp để tháo gỡ khó khăn cho
doanh nghiệp nhà nước. Mở đầu là Quyết định 25/CP của Chính phủ tháng 1-
1981, các xí nghiệp quốc doanh có quyền xây dựng ba kế hoạch A, B, C,
bước đầu tạo quyền chủ động cho đơn vị sản xuất kinh doanh.
Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà
nước một cách mạnh mẽ. Quyết định 217 năm 1987 của Chính phủ đã trao
quyền tự chủ một cách toàn diện cho doanh nghiệp nhà nước.
Cuối năm 1991, Hội nghị Trung ương hai khoá VII, đã đề ra chủ trương
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Từ giữa năm 1992, Thủ tướng Chính
phủ và các bộ, ngành liên quan đã có nhiều quyết định triển khai thực hiện.
9
Tháng 1-1994, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII đã
nhận định:
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhiều doanh nghiệp nhà
nước làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực, lãng phí lớn là do tài sản của
Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, có trách nhiệm và lợi
ích rõ ràng đối với việc sử dụng có hiệu quả các tài sản đó; công
nhân, viên chức làm việc tại các doanh nghiệp không có động lực
thường xuyên và bền vững để gắn bó thiết thân với sự phát triển của
doanh nghiệp, không có quyền hạn vật chất và tổ chức đủ mạnh để
tham gia công việc định đoạt các quyết sách làm ăn, ngăn chặn từ
gốc tệ tham nhũng, làm thất thoát, hư hỏng tài sản công. Phải tìm
giải pháp khắc phục cho được tình trạng đó [13, tr.37].
Từ đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII khẳng
định: “Cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính chất
và lĩnh vực xản xuất - kinh doanh” [13, tr.37].
Thực hiện chủ trương đó, ngày 17-3-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
số 10- NQ/TW: "Tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp
nhà nước”, Nghị quyết nêu rõ: “Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần
hóa một bộ phận doanh nghiệp không cần Nhà nước đầu tư 100% vốn”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) tiếp tục xác định: “Triển khai
tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước để huy động
thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu
quả” [14, tr.94].
Tuy nhiên, đến tháng 4-1997, mới có 10 doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hoá.
10
Ngày 4-4-1997 Bộ Chính trị ra Thông báo số 63 TB/TW về “ý kiến của
Bộ chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước”. Thông báo đã nêu 8 việc cần thực hiện để thúc đẩy quá
trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII.
Ngày 29-8-1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP
thay thế Nghị định 28 NĐ/CP để triển khai sâu rộng những tư tưởng chỉ đạo
của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Sau Đại hội IX, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX đã ra Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 24-9-2001, về tiếp tục sắp xếp,
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết đề
ra chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước bằng các biện pháp lớn:
- Sát nhập, hợp nhất các doanh nghiệp nhà nước để khai thác thế mạnh,
khắc phục cái yếu của nhau, tạo “quả đấm” mạnh hơn.
- Giao bán, khoán kinh doanh và cho thuê doanh nghiệp nhà nước
nhằm thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp
nhà nước. Phương thức này áp dụng cho các doanh nghiệp có số tài sản trên 1
tỷ đồng, hầu hết thua lỗ kéo dài, khó khăn trong kinh doanh.
- Giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả.
- Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ
100% vốn.
- Chuyển các doanh nghiệp mà nhà nước giữ 100% vốn sang hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sỡ hữu là nhà nước, hoặc
công ty cổ phần mà các cổ đông là doanh nghiệp nhà nước.
Trong các giải pháp lớn trên, Nghị quyết đề ra chủ trương “đẩy mạnh cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước” [17, tr.21], với mục tiêu "nhằm: tạo ra các loại
11
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu...; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản
lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước" [17, tr.21-22].
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,
ngày 19-6-2002, Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP về việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, tạo cơ sở pháp lý và những
hướng dẫn cụ thể để đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Ngày 22-10-2004, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 45, khẳng định việc tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết Trung ương ba, Trung ương chín
(Khoá IX) về đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước. Chỉ thị nêu rõ: “Cần đẩy mạnh tiến độ và mở rộng
hơn diện doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, kể cả một số tổng công ty lớn
trong một số ngành quan trọng” [17].
Để tạo thêm điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước và bổ sung các vấn đề trong Nghị định 64, ngày 16-11-2004, Chính phủ
ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước
thành công ty cổ phần.
Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Trung ương Đảng và
Chính phủ, việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước từng bước được đẩy
mạnh và thu được kết quả tích cực. Theo số liệu chưa đầy đủ, thì tính từ năm
2001 đến tháng 12 năm 2005 cả nước đã sắp xếp, cổ phần hoá được 2.890
doanh nghiệp trong tổng số 5.655 doanh nghiệp nhà nước (có đầu 2001).
Trong đó cổ phần hoá được 1.831 doanh nghiệp, giao bán 246 doanh nghiệp,
sát nhập hợp nhất 410, giải thể phá sản 165, các hình thức khác 238, đồng
thời thành lập mới 65 doanh nghiệp. Riêng 2005 đã cổ phần hoá 724 doanh
nghiệp. Qua sắp xếp, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, vốn điều lệ tăng
bằng 44%, doanh thu tăng 24%, lợi nhuận tăng 140%, thu nhập người lao
động tăng 12% [25].