Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

tình hình mắc bệnh lao ở độ tuổi sinh đẻ (1845) và các yếu tố liên quan ở huyện thăng bình, tỉnh
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là bệnh xã hội, thuộc bệnh nhiễm khuẩn mãn tính, do trực
khuẩn lao (Mycobacterium Tuberculosis ). Ngoài ra, người ta còn phân lập
được một số Mycobacterium khác như trực khuẩn lao bò ( Mycobacterium
Bovis ) và các trực khuẩn không điển hình ( Mycobacterium atypique ) cũng
là nguyên nhân gây bệnh nhưng hiếm gặp [10].
Bệnh lao đã có từ lâu trước Công nguyên, nhưng sự hiểu biết về bệnh
lao trong một khoảng thời gian rất dài là hoàn toàn sai lầm. Người ta quan
niệm bệnh lao là một bệnh di truyền, do đó không có thuốc điều trị. Cho đến
năm 1882, Robert Koch mới tìm ra trực khuẩn lao, từ đó mở ra một kỷ
nguyên mới về chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh lao [18], [19].
Hiện nay, bệnh lao vẫn là một bệnh có tỉ lệ mắc và tử vong cao hàng
đầu trong các bệnh nhiễm trùng. Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới
(WHO) trên thế giới đã có khoảng 1/3 dân số nhiễm lao với số lượng xấp xỉ
trên 2 tỷ người. Trên thế giới hiện nay có 16 triệu người mắc lao, mỗi năm có
thêm 9 triệu người mắc lao mới và khoảng 2 triệu người chết vì lao. Bệnh lao
là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng chỉ do một loại
vi trùng lao gây nên [3], [5], [16], [19]. Trong đó 99% số người chết do lao
thuộc các nước nghèo và đang phát triển. Hơn 70% số bệnh nhân lao trên thế
giới thuộc các nước Châu Á.
Ở nước ta, theo số liệu điều tra năm 1986-1995 thì chỉ số nguy cơ
nhiễm lao hằng năm được ước tính trong cả nước là 1,5% dân số. Số bệnh
nhân mới mắc các thể lao là 130.000 người, số lao phổi có vi trùng mới mắc
bệnh 60.000. Tổng số các trường hợp lao 260.000, trong đó lao phổi có vi
2
trùng 120.000. Việt nam là quốc gia đứng thứ 13 trong 22 nước có số người
mắc lao cao trên thế giới [2], [3].
Những nghiên cứu gần đây đã nhắc nhở về tầm quan trọng của tình
hình bệnh lao. Lao vẫn còn là tác nhân gây tử vong cao nhất trên thế giới. Nó
tấn công mạnh vào cả trẻ em và người già, tệ hại nhất là vào lớp người độ tuổi
từ 15-49.
Bệnh lao làm suy kiệt cơ thể và mất khả năng lao động. Đặc biệt ở phụ
nữ, nó làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và sự phát triển của thai nhi.
Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân và
chỉ số phát triển con người của các quốc gia. Mỗi bệnh nhân lao phải mất
trung bình 3 đến 4 tháng lao động trong năm, làm giảm 20% đến 30% thu
nhập của gia đình. Chính vì sự quan trọng đó nên tôi thực hiện đề tài “ Tình
hình mắc bệnh lao ở độ tuổi sinh đẻ (18-45) và các yếu tố liên quan ở
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, năm 2008” nhằm các mục tiêu:
1. Đánh giá tình hình mắc bệnh lao các thể ở phụ nữ độ tuổi 18-45 tại
huyện Thăng bình, tỉnh Quảng nam, năm 2008.
2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các thể lao ở
phụ nữ độ tuổi 18-45.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.DỊCH TỄ HỌC
1.1.1. Vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao được được xếp vào họ Mycobacteriaceae .Họ này
bao gồm các trực khuẩn kháng cồn kháng toan, chúng có thể tồn tại trong môi
trường có nồng độ cồn và axít nhất định, chúng không bị mất màu khi tẩy
bằng cồn và axít loãng ở tiêu bản nhuộn ziehl- neelsen. Vi khuẩn lao là những
trực khuẩn hình que, mảnh, dài từ 2-4 m, thuộc loài vi sinh vật trung gian giữa
nấm và vi khuẩn. Chúng không có vỏ, không có lông và không có nha bào. Vi
khuẩn lao cấu tạo giàu Lipid ở thành tế bào, vì vậy chúng không bắt màu
thuốc nhuộn anilin thông thường và việc nhuộn Gram là không có hiệu quả.
Nhuộn Ziehl-Neelsen vi khuẩn có màu đỏ. Trực khuẩn lao thuộc loại hiếu khí,
chúng phát triển rất chậm, thông thường từ 1-2 tháng mới tạo được khuẩn lạc
trên môi trường .
Mặc dù trong điều kiện bình thường vi khuẩn lao phân chia 20-24 giờ
/lần, nhưng có nhiều chủng phát triển rất chậm chu kỳ hằng tháng, thậm chí
có những vi khuẩn trong một số loại tổn thương tồn tại rất lâu, không phát
triển cũng như không chết. Người ta gọi trường hợp này “BK nghủ “ gặp điều
kiện thuận lợi chúng phát triển trở lại .
Cấu trúc sinh hoá của trực khuấn lao rất đa dạng và phức tạp, có lớp vỏ
ngoài với những thành phần mycozyt, sulfatít, muramyl, dipeptit các axít . . .
Đây là một nguồn kháng nguyên rất phong phú, khiến cho trực khuẩn khi xâm
nhập vào cơ thể gây nên những đáp ứng miễn dịch rất khác nhau. Trực khuẩn
lao cũng có khả năng tổng hợp một hệ thống men rất phức tạp, có khả năng
4
sống trong đại thực bào gây tổn thương đặc hiệu gọi là bã đậu. Độc tính của
trực khuẩn lao cũng thay đổi khá nhiều theo từng vùng trên thế giới [23].
Một bệnh nhân lao phổi trong thời kỳ lây nhiễm có thể có ít nhất 5.000
vi khuẩn/ 1ml đờm. Sau khi xâm nhập vào phế nang, vi khuẩn lao bị đại thực
bào nuốt nhưng vẩn có khá năng nhân lên trong đại thực bào tạo nên phản
ứng viêm lúc đầu không đặc hiệu, sau đó là đặc hiệu, dẩn đến các hoại tử bã
đậu và hình thành các nốt u lao. Như vậy ở một bệnh nhân thể lao hang có 3
mật độ vi khuẩn tồn tại trong tổn thương lao: Quần thể thứ nhất có số lượng vi
khuẩn rất lớn ( trung bình 108
vi khuẩn ) do vi khuẩn nhân lên mạnh mẽ trong
điều kiện pH trung tính có trong hang lao. Quần thể thứ hai gồm các vi khuẩn
lao trong các đại thực bào, do môi trường a xit nên kém phát triển hơn, số
lượng vi khuẩn không quá 108
. Quần thể thứ ba là những vi khuẩn thoát ra
khỏi đại thực bào, nhưng vẫn bị giữ trong các đám hoại tử bã đậu, khả năng
nhân lên chậm do thiếu ôxy, số lượng vi khuẩn không quá 105
, theo nhiều tác
giả, số lượng vi khuẩn lao có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ bệnh tật, đến
xác suất đột biến hình thành tính kháng thuốc của vi khuẩn [18].
1.1.2.Đƣờng lây truyền bệnh lao
Khả năng lây truyền bệnh lao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sau nhiều
nghiên cứu ở Hà Lan cũng như ở Lesotho và Uganda trong những môi trường
khác nhau. Các tác giả Styblo, Sutherlard, Fayer ( 1975 ) đã kết luận: Một
bệnh nhân lao dương tính có thể làm lây cho khoảng 10 người trong một năm.
Khi không được phát hiện và điều trị chu đáo, bệnh nhân lao có thể là nguồn
lây trong vòng 2 năm trước khi chết. Nếu bệnh nhân có thể tự hết thì khả năng
làm lây cho xã hội còn kéo dài hơn vì thời gian để bệnh tự khỏi lâu hơn. Theo
Styblo ước tính ở một nước có hoạt động chống lao kém, tỷ lệ phát hiện thấp,
mổi bệnh nhân lao có vi khuẩn lao sẻ làm lây nhiễm cho khoảng 20-24 người
lành.
5
Hầu hết ( 90% ) các trường hợp nhiễm khuẩn lao là tiềm ẩn không triệu
chứng. 10% những người này trong cuộc đời họ sẻ tiến triển thành bệnh lao
có triệu chứng, nếu không điều trị thì có đến 50% người mắc lao tử vong [19].
1.1.3 Các chỉ số và yếu tố liên quan đến bệnh lao
Để nghiên cứu các yếu tố liên quan đến bệnh lao người ta thường xác
định các chỉ số chính của dịch tể học bệnh lao:
- Chỉ số mới mắc lao: Số bệnh nhân mới xuất hiện trong một năm, tính
trên một trăm ngàn dân ( 100.000 ). Bao gồm lao phổi AFB( + ), lao phổi
AFB ( - ), lao ngoài phổi. Chỉ số mới mắc lao phổi AFB( + ) là chỉ số dịch tể
chính để lương giá mức độ trầm trọng của bệnh lao.
- Chỉ số tổng số bệnh nhân lao (số hiện mắc ): Số bệnh nhân lao đang
được quản lý ở một thời điểm, tính trên 100.000 dân .
- Chỉ số tử vong lao: Số bệnh nhân lao chết tại cộng đồng, tính trên
100.000 dân. Chỉ số nhiễm lao: Tỷ lệ số người có phản ứng Tuberculin dương
tính trong một quần thể cùng một lứa tuổi ở một thời điểm điều tra .
- Chỉ số nguy cơ nhiễm lao hằng năm: Tỷ lệ số người mới bị nhiễm lao
hoặc tái nhiễm trong một năm [3], [8], [9].
Ngày nay, người ta nhận thấy một số nguyên nhân làm gia tăng bệnh lao:
- Do ảnh hưởng của đại dịch HIV.
- Đối với các nước công nghiệp phát triển có nguyên nhân của sự di dân
từ những nơi có độ lưu hành lao cao đến.
- Tình hình bùng nổ dân số thế giới khiến số bệnh nhân gia tăng.
- Các chính sách xã hội thiếu cụ thể và nền kinh tế kém phát triển kèm
theo hệ thống y tế chưa hoàn thiện là nguyên nhân làm gia tăng số bệnh nhân
và nguy cơ xuất hiện sự kháng thuốc [2], [15]. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng
6
đến sức đề kháng của cơ thể con người chống lại trực khuẩn lao. Những yếu
tố này bao gồm:
Tuổi và giới: Cho đến tuổi dậy thì, hầu như không có sự khác nhau
giữa nam và nữ. Sức đề kháng ở trẻ em dưới một tuổi thuộc cả hai giới đều
yếu. Cho tới hai tuổi, nhiễm lao có thể gây ra những thể nặng nhất như lao
kê và lao màng não do lan tràn theo đương máu, sau một tuổi và trước tuổi
dậy thì, nhiễm lao có thể đưa đến lao kê, lao màng não, hoặc một trong
những thể lao lan tỏa mãn tính. Đặt biệt là lao bạch huyết, lao xương khớp.
Trước tuổi dậy thì, ở phổi thường lao sơ nhiễm và bệnh cũng thường khu trú
ở phổi, tuy nhiên lao ở trẻ em châu phi, châu Á bị suy dinh dưỡng nặng, nhất
là trẻ gái từ 10 – 14 tuổi cũng có thể lây những loại tổn thương nặng như
hang lao giống của người lớn. Hạch viêm của phức hợp sơ nhiễm cũng có
thể gây xẹp phổi … Khi bệnh lao còn phổ biến ở châu Âu và bắc Mỹ, số mới
mắc lao phổi gặp nhiều nhất trong lớp người trẻ tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam
tương đối cao hơn ở mọi tuổi, nhưng ở nữ giới tỷ lệ có khuynh hướng giảm
nhanh sau tuổi sinh nở. Ở các nước châu phi và Ấn độ qua một số thống kê
còn hạn chế, tình hình có khác đôi chút. Số mắc lao phổi hình như tăng theo
tuổi ở cả hai giới. Phụ nữ mắc lao ít hơn và mức tăng theo tuổi cũng thấp
hơn so với nam giới. Phụ nữ mắc bệnh cao nhất ở 40-50 tuổi rồi giảm. Ở
nam giới tỷ lệ tiếp tục tăng ít nhất đến 60 tuổi.