Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Cuộc đấu tranh của Công an nhân dân chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
ĐỖ VĂN DŨNG
CUỘC ĐẤU TRANH CỦA CÔNG AN NHÂN DÂN
CHỐNG CÁC THẾ LỰC PHẢN CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1985
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại
Mã số: 62 22 54 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Nguyễn Mạnh Hà
TS. Đỗ Văn Thuyết
HÀ NỘI- 2011
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu sử dụng để viết luận án là trung thực. Những kết luận trong luận án chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, 10-2011
Tác giả luận án
Đỗ Văn Dũng
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan 2
Mục lục 3
Danh mục các chữ viết tắt 5
3
MỞ ĐẦU 6
CHƢƠNG 1: CÔNG AN NHÂN DÂN ĐẤU TRANH GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH TÌNH
HÌNH MIỀN NAM SAU GIẢI PHÓNG VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH TỔ
QUỐC ( 5-1975- 1979).
16
1.1. Đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng nhằm ổn định an
ninh, trật tự ở miền Nam sau giải phóng. 16
1.1.1. Khái niệm về phản cách mạng, các thế lực phản cách mạng và quan
điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, của Đảng về đấu tranh chống các thế lực
phản cách mạng ở Việt Nam. 16
1.1.2. Tổ chức đăng ký trình diện, phân loại, giáo dục cải tạo và trấn áp các
đối tượng và tổ chức phản cách mạng. 24
1.2. Phối hợp với quân đội bảo vệ chủ quyền và an ninh Tổ quốc ở
tuyến biên giới Tây Nam và tuyến biên giới phía Bắc. 37
1.2.1. Bảo vệ chủ quyền và an ninh Tổ quốc ở tuyến biên giới Tây Nam. 37
1.2.2. Bảo vệ chủ quyền và an ninh Tổ quốc ở tuyến biên giới phía Bắc. 50
CHƢƠNG 2: CÔNG AN NHÂN DÂN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƢU
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN CÁCH MẠNG (1980- 1985). 62
2.1. Âm mƣu, hoạt động của các thế lực phản cách mạng và sự lãnh
đạo của Trung ƣơng Đảng, Bộ Nội vụ trong đấu tranh chống các thế
lực phản cách mạng. 62
2.1.1. Âm mưu, hoạt động mới của các thế lực phản cách mạng. 62
2.1.2. Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và của Bộ Nội vụ trong đấu tranh
chống các thế lực phản cách mạng. 68
2.2. Đấu tranh làm thất bại âm mƣu và hoạt động của các thế lực phản
cách mạng, bảo vệ an ninh chính trị. 79
2.2.1. Tổ chức nắm tình hình, từng bước loại trừ các nhân tố gây rối chính
trị, gây bạo loạn. 79
2.2.2. Đấu tranh làm thất bại các hoạt động phá hoại tư tưởng, xâm nhập,
gây rối, bạo loạn vũ trang và làm tan rã nhiều tổ chức phản cách mạng. 84
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CUỘC ĐẤU TRANH
CỦA CÔNG AN NHÂN DÂN CHỐNG CÁC THẾ LỰC PHẢN CÁCH MẠNG Ở
4
VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1985. 111
3.1. Đặc điểm 111
3.1.1. Đấu tranh trong điều kiện đất nước hoà bình, kinh tế- xã hội rất khó
khăn; vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa có chiến tranh xảy ra. 111
3.1.2. Cuộc đấu tranh diễn ra trong thế ta chủ động, lực lượng phản cách
mạng trong thế bị động câu kết với nước ngoài âm mưu hoạt động phá hoại
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 117
3.1.3. Sử dụng nhiều lực lượng tham gia đấu tranh, Công an nhân dân làm
nòng cốt, trong bối cảnh thế lực thù địch thực hiện "Diễn biến hoà bình". 123
3.2. Bài học kinh nghiệm 129
3.2.1. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật Nhà nước trong đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng; xác
định đúng đối tượng đấu tranh. 129
3.2.2. Dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, sử
dụng kết hợp biện pháp nghiệp vụ công an trong đấu tranh chống các thế
lực phản cách mạng. 138
3.2.3. Chủ động xử lý mọi tình huống; tiến hành đồng bộ các mặt trận trong
đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng. 146
KẾT LUẬN 155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC 170
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANCT An ninh chính trị
ANTQ An ninh Tổ quốc
5
CAND Công an nhân dân
CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DBHB Diễn biến hoà bình
LLAN Lực lượng an ninh
XHCN Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng là cuộc đấu tranh giữa lực
lượng cách mạng và phản cách mạng. Thực chất cuộc đấu tranh này nhằm
làm thất bại các âm mưu và hoạt động của các thế lực phản cách mạng trong
và ngoài nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
6
Tổ quốc, bảo vệ sự tồn tại, vững mạnh của nhà nước. Vì thế, trong quá trình
tồn tại và phát triển của mình, bất kỳ nhà nước XHCN nào cũng đều phải tiến
hành đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng. Ngày 15-8-1960, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam) ban hành Chỉ thị số 220- CT/TW “Về việc tích cực thi hành Chỉ thị số
186- CT/TW đẩy mạnh đấu tranh chống bọn phản cách mạng”, xác định:
“Công tác trấn áp phản cách mạng có một vị trí hết sức quan trọng. Nó nhằm
bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ lợi
ích của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng thắng lợi” [144.35].
Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của quân và dân Việt Nam kết thúc thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải
phóng, đất nước thống nhất. Nhưng ngay sau đó, nhân dân ta đã phải đối mặt
với tình trạng đất nước vừa có hoà bình, vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh
bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và phía Bắc. Trong khi đó, CNĐQ cùng
các thế lực phản cách mạng trong và ngoài nước câu kết với nhau thực hiện
âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam một cách toàn diện hòng phá hoại
công cuộc xây dựng xã hội mới của nhân dân ta, cao hơn là lật đổ chế độ, xoá
bỏ thành quả cách mạng. Tình hình đó tác động sâu sắc đến cuộc đấu tranh
trên mặt trận bảo vệ ANCT và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Cuộc đấu tranh
chống các thế lực phản cách mạng sau năm 1975 để bảo vệ ANCT ở Việt
Nam vẫn diễn ra gay go, quyết liệt.
Mỗi quốc gia là một bộ phận của thế giới, gắn chặt với quá trình vận
động và biến đổi chung của thế giới. Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế
quốc tế đã trở thành phổ biến trong tình hình hiện nay. Lợi dụng cơ hội này,
các thế lực thù địch đang tiến công quyết liệt bằng hoạt động DBHB hòng
làm tan rã từ bên trong, từng bước xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Cuộc
đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng đang đứng trước những yêu cầu
7
mới và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự bền vững của chế độ chính trị,
với vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và sự bình yên, hạnh phúc của nhân
dân Việt Nam. Sự vững mạnh về chính trị và việc đảm bảo chắc chắn quốc
phòng và an ninh sẽ góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế. Kinh nghiệm
rút ra ở Việt Nam cũng như một số nước khác trên thế giới là nếu không đảm
bảo giữ vững được an ninh quốc gia: “Thì không giữ được độc lập và phát
triển kinh tế một cách có hiệu quả” [126.97]. Trong hoàn cảnh mới, với bản
chất phản động cố hữu, kẻ thù thường xuyên điều chỉnh phương thức hoạt
động, âm mưu thủ đoạn chống phá ta. Do đó, việc nghiên cứu âm mưu, hoạt
động chống phá của các thế lực phản cách mạng trên lĩnh vực ANCT không
chỉ xuất phát từ mục đích nhận thức và hiểu rõ kẻ thù, mà còn xuất phát từ
yêu cầu nhiệm vụ của công tác bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay.
Để ngăn chặn kịp thời và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn
hoạt động chống phá của kẻ thù, trước hết phải hiểu và nắm chắc kẻ thù. Chỉ
có trên cơ sở nắm chắc, nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động
của kẻ thù, chúng ta mới có cơ sở để đưa ra những chủ trương, giải pháp,
phương thức đấu tranh đúng, tiến công địch kịp thời và mới giành được thắng
lợi. Vì vậy, nghiên cứu, vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống
phá của các thế lực phản cách mạng và làm rõ hoạt động đấu tranh của lực
lượng CAND, từ đó nêu những đặc điểm và bài học kinh nghiệm nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực ANCT,
đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, là việc làm cấp thiết hiện nay. Hơn nữa,
thực tiễn cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực phản cách mạng từ
năm 1975 đến năm 1985 đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu và rút ra những
bài học kinh nghiệm, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản trong
cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện tại và mai sau. Về
chủ quan, là một cán bộ đang công tác trong lực lượng công an, trực tiếp
8
nghiên cứu lịch sử công an thời kỳ sau năm 1975 đã tạo động lực, thôi thúc
nghiên cứu sinh thực hiện đề tài. Việc nghiên cứu đề tài này, vì thế còn mang
ý nghĩa thực tiễn đối với nghiên cứu sinh. Với những lý do trên, nghiên cứu
sinh chọn vấn đề Cuộc đấu tranh của Công an nhân dân chống các thế lực
phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985 làm đề tài luận án
tiến sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam, đến nay đã
có nhiều công trình của cá nhân và tập thể nghiên cứu, công bố rộng rãi hoặc
lưu hành nội bộ. Những công trình này được công bố dưới nhiều hình thức
như: Sách nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa
học, đề tài tổng kết lịch sử, luận văn, luận án. Trong quá trình tập hợp tài liệu
để nghiên cứu đề tài, nghiên cứu sinh thấy nổi lên một số bài viết, công trình
đáng chú ý. Có thể tổng hợp các tài liệu đó thành 3 nhóm cơ bản như sau:
- Nhóm thứ nhất, là sách chuyên khảo: Tổng kết công tác đấu tranh
chống phản cách mạng (1930-1964) của Ban Nghiên cứu tổng kết Bộ Công
an, 1969; Một số vấn đề về đấu tranh chống phản cách mạng của Trần Quốc
Hoàn, Viện Nghiên cứu Khoa học Công an, 12-1975; Một số vấn đề về âm
mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của bọn phản động và công tác đấu
tranh của ta, Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng,
1982; Mấy vấn đề về đấu tranh chống phản cách mạng sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng, tác giả Viễn Chi, Nhà xuất bản CAND, 1983. Do trình
bày trong phạm vi rộng về những vấn đề lý luận, nghiệp vụ công an và âm
mưu của các đối tượng phản động, nên các tác giả chưa nghiên cứu sâu hoạt
động của CAND đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam từ
năm 1975 đến năm 1985.
9
- Nhóm thứ hai, là những bài nghiên cứu về đấu tranh chống các thế lực
phản cách mạng liên quan trực tiếp đến nội dung luận án được đăng trên các
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Công an và Tập san Toà án nhân dân.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học Công an có: “Tăng cường giáo dục cải tạo
trên mặt trận đấu tranh chống phản cách mạng, giữ gìn trật tự, an ninh” (9-
1976) và “Tìm hiểu quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về pháp
luật trấn áp phản cách mạng”, tác giả Đào Văn Giảng (11-1985); “Về việc đấu
tranh phòng và chống bạo loạn phản cách mạng trong tình hình mới”, tác giả
Hoài Viễn (33-1977); “Tình hình bắt, giam giữ, xử lý các đối tượng phản cách
mạng ở các tỉnh biên giới phía Bắc trước và sau chiến sự (17-2-1979)”, tác giả
Xuân Công, 1980; “Nắm vững tinh thần nhân đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh để làm tốt công tác đấu tranh chống phản cách mạng”, tác giả Phạm
Minh (51-1981); “Suy nghĩ về vấn đề nghiên cứu chuyên đề dân tộc trong
công tác đấu tranh chống bọn phản cách mạng lợi dụng các dân tộc thiểu số”,
tác giả Nông Lưu (9-1985); “Một số bài học đấu tranh chống phản cách
mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân” (7-2001), tác giả Kông Tư…
Tập san Toà án nhân dân có: “Tăng cường công tác pháp chế trong
ngành công an nhằm bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống phản cách mạng và
tội phạm khác, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội thêm vững mạnh”, tác
giả Ngọc Thuý (4-1975); “Một số ý kiến về công tác trấn áp phản cách mạng
ở các tỉnh phía Nam” (6-1977) và “25 năm ngành Toà án nhân dân phục vụ
công tác đấu tranh trấn áp phản cách mạng”, tác giả Hà Phạm Khánh (5-
1985). Những bài nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng để nghiên cứu về
cuộc đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam cả phương diện
lý luận và thực tiễn.
Nhóm thứ ba, là các luận văn, luận án, đề tài khoa học, kỷ yếu hội thảo
khoa học. Luận văn Thạc sĩ Triết học Nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc
10
đấu tranh chống diễn biến hoà bình lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của Đào Duy
Quát. Những luận án Tiến sĩ Lịch sử nghiên cứu về cuộc đấu tranh chống
phản cách mạng dưới góc độ lịch sử Đảng: Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu
tranh chống phản cách mạng trên địa bàn Hà Nội thời kỳ 1945-1946 của
Phùng Đức Thắng, 1993; Vấn đề xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân
trong những năm 1975-1990 của Nguyễn Trọng Phúc, 1991. Đề tài Tổng kết
lịch sử Công tác tập trung giáo dục cải tạo đối tượng xâm phạm an ninh quốc
gia của Tổng cục An ninh- Bộ Công an, chủ nhiệm PGS.TS. Trần Đại Quang,
2005. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 1954-1975, nhân dịp kỷ
niệm 30 năm giải phóng miền Nam (30-4-1975- 30-4-2005). Những tác phẩm
trên đã nghiên cứu sâu sắc vấn đề đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân
dân, nêu một số kết quả công tác tập trung giáo dục cải tạo đối tượng xâm
phạm an ninh quốc gia- một trong những biện pháp đấu tranh hiệu quả chống
các đối tượng và tổ chức phản cách mạng ở Việt Nam. Nội dung cơ bản và số
liệu, dẫn chứng cho những luận điểm nêu ra trong luận án, nằm rải rác trong
các công trình trên, đã được nghiên cứu sinh thu thập, xử lý để viết luận án.
Như vậy, đã có một số công trình của các tác giả nghiên cứu về cuộc đấu
tranh chống các thế lực phản cách mạng nói chung và đạt được một số kết quả
nhất định. Những kết quả đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu sinh
trong công tác sưu tầm tư liệu, tham khảo thực hiện viết luận án. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng về cuộc đấu tranh chống
các thế lực phản cách mạng, đặc biệt là những hoạt động cụ thể của lực lượng
CAND trong việc nắm tình hình địch, lập kế hoạch đấu tranh, sử dụng các
biện pháp nghiệp vụ đấu tranh phù hợp, hiệu quả để làm thất bại âm mưu và
hoạt động của các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam. Kế thừa có chọn lọc
kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án hướng vào tập trung
11
nghiên cứu một cách hệ thống cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực
phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Mục đích của luận án nhằm làm rõ những vấn đề sau:
Một là, xác định rõ những âm mưu, hoạt động của các thế lực phản cách
mạng chống Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985.
Hai là, lực lượng CAND vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của
Đảng và sử dụng kết hợp các biện pháp nghiệp vụ trong đấu tranh chống các
thế lực phản cách mạng ở Việt Nam.
Ba là, vị trí, vai trò cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực phản
cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985 góp phần giữ vững sự ổn
định về ANCT, bảo vệ vững chắc chế độ và Tổ quốc Việt Nam XHCN và
đảm bảo cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu, làm rõ thêm về khái niệm phản cách mạng, các thế lực phản
cách mạng, gián điệp, phản động. Phân tích một số luận điểm cơ bản của Chủ
nghĩa Mác- Lênin về cách mạng và phản cách mạng; tư tưởng Hồ Chí Minh,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc lãnh đạo CAND đấu
tranh chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam. Có thể xem đây là
nhiệm vụ làm rõ về phương diện lý luận của luận án.
- Trên cơ sở trình bày hoàn cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam sau năm
1975, phân tích những nhân tố tác động đến cuộc đấu tranh chống các thế lực
phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985;
- Miêu tả hoạt động cụ thể của CAND đấu tranh chống các thế lực phản
cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985. Đồng thời làm rõ các đặc
điểm, bài học kinh nghiệm cuộc đấu tranh góp phần chống DBHB của các thế
12
lực thù địch để bảo vệ ANCT ở Việt Nam. Có thể xem đây là nhiệm vụ về
phương diện thực tiễn của luận án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề sau:
- Những tác động của hoàn cảnh lịch sử đến cuộc đấu tranh chống các
thế lực phản cách mạng ở Việt Nam;
- Nội dung chính trong đường lối của Đảng đấu tranh chống các thế lực
phản cách mạng ở Việt Nam;
- Hoạt động đấu tranh của lực lượng CAND chống những đối tượng và
tổ chức phản cách mạng ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985, trong đó đặc
biệt chú ý đến các vấn đề như nắm tình hình địch, tổ chức lực lượng đấu
tranh, sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để đấu tranh;
- Những thành tựu đạt được trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản
cách mạng ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực phản cách
mạng ở Việt Nam được đề cập nghiên cứu chủ yếu từ sau khi kết thúc cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Nam hoàn toàn được giải phóng (từ
tháng 5-1975 đến năm 1985). 10 năm đầu (1975-1985) là thời kỳ lịch sử bước
ngoặt của dân tộc kể từ khi Đảng ra đời: Đất nước thống nhất, cùng thực hiện
một nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong thời gian
này, Việt Nam tập trung vào nhiệm vụ khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả
chiến tranh; các lực lượng vũ trang nỗ lực trên mặt trận đấu tranh chống các
thế lực phản cách mạng, góp phần giành nhiều thắng lợi trong chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc ở tuyến biên giới Tây Nam và tuyến biên giới phía Bắc và làm
tròn nghĩa vụ quốc tế trong tình hình mới.
13
+ Mốc 1985: Trong lĩnh vực an ninh, nếu như trước đây, chúng ta quan
niệm các tội phản cách mạng là các tội trực tiếp xâm phạm ANCT, là các tội
chính trị, thì sau khi Bộ Luật Hình sự ra đời (năm 1985), chúng ta quan niệm
rõ hơn về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Sau năm 1985, Bộ Luật Hình
sự không đưa ra khái niệm tội phản cách mạng nữa mà đưa ra khái niệm tội
đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia. Luận án dừng phạm vi
nghiên cứu đến năm 1985 cho phù hợp với việc dùng khái niệm phản cách
mạng.
- Về không gian: Cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực phản cách
mạng diễn ra trong lãnh thổ Việt Nam, chủ yếu ở miền Nam Việt Nam.
5. Nguồn tài liệu, cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu: Tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác- Lênin và
Chủ tịch Hồ Chí Minh; văn kiện của Đảng và Nhà nước lãnh đạo lực lượng
công an đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng; những bài viết của lãnh
đạo Đảng, Nhà nước. Nghị quyết, chỉ thị của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an),
những bài viết của lãnh đạo Bộ Nội vụ, các hồ sơ phục vụ chuyên án, tài liệu
báo cáo tổng kết công an các tỉnh, hồi ký của công an lão thành được lưu trữ ở
Bộ Công an; những công trình sử học, công trình chuyên khảo của các nhà
nghiên cứu sử học trong các học viện, viện nghiên cứu. Sách, báo, tạp chí
trong và ngoài lực lượng công an có liên quan đến nội dung luận án; các tài
liệu của địch đã được phân tích, đánh giá và so sánh với các tư liệu khác nhau,
trên cơ sở đó rút ra những thông tin xác thực phục vụ cho việc tham khảo,
nghiên cứu.
Nghiên cứu sinh đã sưu tầm số lượng tư liệu để đảm bảo cho việc thực
hiện viết luận án. Đây là những tư liệu phản ánh từng mặt vấn đề nghiên cứu
được trích ghi tóm tắt nội dung cần thiết sử dụng vào minh chứng cho các
luận điểm nêu trong luận án. Nội dung các tư liệu nêu trên phản ánh bản chất
14
cuộc đấu tranh của CAND chống các thế lực phản cách mạng ở Việt Nam và
đảm bảo chính xác. Đối với những tư liệu có xuất sứ không rõ ràng, nội dung
và số liệu có vấn đề mâu thuẫn với tài liệu khác, hoặc có những vấn đề nghi
vấn đã được nghiên cứu sinh so sánh, đối chiếu với tư liệu khác thông qua các
nhân chứng lịch sử, qua toạ đàm và hội thảo khoa học. Đối với tư liệu có
những chỗ sai sót hoặc có những chi tiết còn thiếu đã được nghiên cứu sinh
chỉnh sửa lại, bổ sung, chỉnh lý và hiệu đính. Những tư liệu trên giúp ích cho
nghiên cứu sinh tham khảo để viết luận án.
5.2. Cơ sở lý luận:
Trong quá trình nghiên cứu, luận án triệt để vận dụng lý luận của Chủ
nghĩa Mác- Lênin về cách mạng, phản cách mạng và đấu tranh chống các thế
lực phản cách mạng; tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh tự bảo vệ cách
mạng. Luận án bám sát đường lối, chính sách thể hiện qua chỉ thị, nghị quyết
về đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng trong các văn kiện Đảng từ
Đại hội III, Đại hội IV đến Đại hội V, coi đây là nguồn cung cấp những căn
cứ lý luận, định hướng tư tưởng; là chỗ dựa chủ yếu và quan trọng trong khi
phân tích. Ngoài ra, các tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước
và của Bộ Nội vụ cũng có ý nghĩa lý luận đối với những vấn đề được đề cập
trong luận án. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước được in, dịch thành sách hoặc công bố trên báo, tạp
chí có liên quan đến luận án được khai thác sử dụng làm cơ sở cho việc
nghiên cứu.
5.3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logich,
xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu.
Trong toàn bộ luận án, sau khi hệ thống lại toàn bộ các sự kiện lịch sử đã
sưu tầm được và sắp xếp theo chủ đề của chương, tác giả luận án tiến hành
15
phân tích, đánh giá các sự kiện để từ đó rút ra những nhận định và khái quát
thành kết luận của từng chương. Từ kết luận các chương, tác giả tổng hợp
thành những vấn đề chung nhất, trình bày khái quát và trên cơ sở đó rút ra kết
luận chung của luận án.
Tiếp xúc với chuyên gia: Thông qua hình thức trao đổi, trò chuyện với
các chuyên gia, lấy nhận xét phản biện hoặc phỏng vấn để khai thác, kiểm
chứng những thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận án:
Một là, phục dựng lại một cách hệ thống về cuộc đấu tranh, trong đó lực
lượng CAND đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, đấu tranh mưu trí,
dũng cảm làm thất bại âm mưu, hoạt động của các tổ chức phản cách mạng ở
Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1985, thông qua đó tuyên truyền trong cán
bộ, chiến sĩ công an và nhân dân ý thức, trách nhiệm đối với sự nghiệp bảo vệ
an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội;
Hai là, khái quát lên một số đặc điểm và bài học kinh nghiệm về đấu
tranh chống các thế lực phản cách mạng giai đoạn này, góp phần vào thực tiễn
đấu tranh chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài
nước hiện nay;
Ba là, cung cấp tư liệu về lĩnh vực an ninh cho việc nghiên cứu, giảng
dạy lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công
trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Công an nhân dân góp phần ổn định tình hình miền Nam
sau giải phóng và bảo vệ chủ quyền, an ninh Tổ quốc (5-1975- 1979).