Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
iv
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN THUẤN
LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TÁC
NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số : 62.22.32.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRỊNH BÁ ĐĨNH
HÀ NỘI - năm 2013
v
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, xin chân thành cảm ơn những ngƣời thân yêu trong gia
đình đã tạo mọi điều kiện cần thiết để tôi tập trung hoàn thành luận án.
Đặc biệt, xin cảm ơn nhà giáo, PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh, ngƣời đã
tận tình chỉ dạy, hƣớng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi
sớm hoàn thành luận án trong điều kiện tốt nhất có thể.
Xin cảm ơn lãnh đạo Khoa Ngữ văn, lãnh đạo Trƣờng Đại học sƣ
phạm - Đại học Huế, lãnh đạo Viện Văn học và Học viện khoa học xã
hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi
thực hiện luận án.
Xin đƣợc cảm ơn tất cả quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, sinh
viên - những ngƣời đã luôn khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
Tác giả
Nguyễn Văn Thuấn
vi
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ
chuẩn xác cao nhất. Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất
xứ rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình
nghiên cứu của mình.
Huế, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Văn Thuấn
vii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa .........................................................................................................................i
Lời cảm ơn………………………………………………………………………... ..............ii
Lời cam đoan .......................................................................................................................iii
Mục lục .................................................................................................................................iv
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt đƣợc sử dụng trong luận án.......................... vi
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..................................................................................................1
2. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu........................................................3
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu...........................................................................4
4. Đóng góp của luận án..........................................................................................5
5. Cấu trúc luận án...................................................................................................5
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.......................................6
1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản.....................................................6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới .........................6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam ..........................8
1.2. Tình hình nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Thiệp........................................15
1.2.1. Những nghiên cứu gián tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp...........15
1.2.2. Những nghiên cứu trực tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp ...........16
Chƣơng 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH LIÊN VĂN BẢN .......20
2.1. Lí thuyết liên văn bản của chủ nghĩa cấu trúc: Genette và Riffaterre............20
2.1.1. Gérard Genette và tính xuyên văn bản ....................................................22
2.1.2. Michael Riffaterre và ảo tƣởng quy chiếu...............................................27
2.2. Lí thuyết liên văn bản từ Bakhtin đến Chủ nghĩa giải cấu trúc......................30
2.2.1. Mikhail Bakhtin và tính đối thoại............................................................30
2.2.2. Julia Kristeva và tính liên văn bản...........................................................38
2.2.3. Roland Barthes và tính đa bội..................................................................44
Chƣơng 3. ĐỐI THOẠI LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TÁC
NGUYỄN HUY THIỆP..........................................................................................55
3.1. Đối thoại tƣ tƣở ng và đối thoại văn hóa .........................................................56
3.1.1. Đối thoại với tƣ tƣởng Nho – Phật – Đạo................................................56
3.1.2. Đối thoại với những thành kiến văn chƣơng ...........................................70
3.1.3. Giải thiêng huyền thoại về nhân cách con ngƣời lịch sƣ̉ .........................77
3.2. Tâm thế đối thoại củ a Nguyễn Huy Thiệp .....................................................83
3.2.1. Từ tâm thức hiện sinh, soi sáng sƣ̣ hiện hƣ̃u củ a con ngƣời ...................83
3.2.2. Lập trƣờng dân chủ trong đối thoại .........................................................89
viii
Chƣơng 4. CÁC HÌNH THỨC LIÊN VĂN BẢN TRONG SÁNG TÁC
NGUYỄN HUY THIỆP..........................................................................................97
4.1. Ảnh hƣởng và đọc sai, trích dẫn và giễu nhại ................................................97
4.1.1. Ảnh hƣởng và đọc sai văn học quá khứ...................................................97
4.1.2. Trích dẫn văn học truyền thống .............................................................113
4.1.3. Giễu nhại văn bản, diễn ngôn và thể loại ..............................................119
4.2. Pha trộ n thể loại trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp ....................................134
4.2.1. Sự xâm nhập của thơ trong văn xuôi .....................................................134
4.2.2. Sự xâm nhập của tự sự vào kịch ............................................................141
KẾT LUẬN............................................................................................................147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
ix
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
CBĐ : Cái biểu đạt
CĐBĐ : Cái đƣợc biểu đạt
LVB : Liên văn bản
NHT : Nguyễn Huy Thiệp
VB : Văn bản
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XX đƣợc xem là thế kỉ của các lí thuyết văn học. Trong thế kỉ này,
ngƣời ta chứng kiến sự ra đời, phát triển của nhiều trƣờng phái, lí thuyết. Chúng
tiếp biến, ảnh hƣởng và phủ nhận nhau khiến đời sống văn học sôi động, đa dạng,
phức tạp. Đầu thế kỉ XX, khái niệm văn bản (text) đƣợc phát hiện đã làm thay đổi
hẳn quan niệm về tác phẩm văn học, cấu trúc của nó, về vị trí và vai trò của tác giả,
ngƣời đọc. Đến nửa cuối thế kỉ này, khái niệm tính liên văn bản (intertextuality) ra
đời và trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngữ văn hàng đầu thế giới.
Nguồn gốc của khái niệm tính liên văn bản đƣợc đa số các nhà nghiên cứu thống
nhất tính từ thời điểm khai sinh của ngôn ngữ học hiện đại gắn liền với tên tuổi của
nhà ngôn ngữ học ngƣời Thụy Sĩ, F. Saussure. Lí thuyết này cũng gắn liền với
những tƣ tƣởng triết học, lí luận văn học độc đáo của nhà bác học Nga M.Bakhtin
và vang vọng những quan niệm của các nhà Hình thức luận Nga. Tuy nhiên, với tƣ
cách một khái niệm lí thuyết văn học, nó chính thức đƣợc đặt ra vào nửa cuối những
năm 60 tại phƣơng Tây bởi nhà nghiên cứu văn học trẻ ngƣời Pháp gốc Bulgaria,
Julia Kristeva. Quan niệm tính liên văn bản của bà ra đời trong bối cảnh các quan
niệm cấu trúc luận đang bị xét lại và đang hình thành cái gọi là chủ nghĩa hậu cấu
trúc. Quan niệm của Kristeva nhanh chóng tìm đƣợc sự hƣởng ứng của các nhà hậu
cấu trúc tên tuổi nhƣ R.Barthes, L.Bloom; các nhà cấu trúc luận – trần thuật học
nhƣ M.Riffaterre, G.Genette...Hiện nay, lí thuyết liên văn bản có sức lan tỏa rất
rộng, đƣợc sử dụng bởi các nhà nữ quyền luận, tân lịch sử, hậu thực dân luận và
một số khuynh hƣớng nghiên cứu kí hiệu học khác nhằm khám phá các hiện tƣợng
văn học/văn hóa quá khứ và đƣơng đại. Cho đến nay, có một nhận thức chung rằng
bất kỳ văn bản nào cũng đều có quan hệ với các văn bản khác ra đời trước đó.
Quan hệ này dựa trên những sự kết nối giữa các văn bản với nhau bằng những
phương thức khác nhau như: ám chỉ, trích dẫn, chuyển thể, chuyển dịch, đạo văn,
nhái, nhại, mô phỏng, pha trộn…Những quan hệ này được tác giả tạo lập bằng ý
thức hoặc vô thức, được độc giả tri nhận trong thực tiễn giao tiếp nghệ thuật và
chúng tương tác với tri thức và trải nghiệm văn bản của người đọc, gây ra hứng thú
diễn giải, qua đó, các giá trị văn hóa không ngừng được sản sinh và đón nhận. Tính
liên văn bản là thuật ngữ được dùng để miêu tả thuộc tính hay phương thức quan hệ
trên đây, nơi mà mỗi văn bản đều chứa đựng sự tham chiếu đối với các văn bản
khác, qua đó chúng sinh sản và nảy nở ý nghĩa.
2
Trên thế giới, từ khi thuật ngữ tính liên văn bản ra đời, nó đã đƣợc vận dụng
rộng rãi vào việc nghiên cứu văn học. Những công trình nghiên cứu theo hƣớng liên
văn bản hiện nay trên thế giới phong phú, đa dạng và phức tạp. Ở Việt Nam, lí
thuyết này cho đến nay vẫn chƣa đƣợc khảo sát và nghiên cứu một cách hệ thống.
Trong mấy năm gần đây, tuy đã có đôi ba bài dịch, giới thiệu nhƣng chừng ấy là
chƣa đủ để giúp cho các nhà nghiên cứu văn học tiếp cận và vận dụng lí thuyết.
Luận án của chúng tôi mong muốn cập nhật, giới thiệu một cách tƣơng đối hệ thống
lí thuyết liên văn bản nhằm đa dạng hóa các cách thức tiếp cận văn học và sâu xa
hơn muốn góp một một phần nhỏ vào quá trình đổi mới hệ hình nghiên cứu văn học
ở Việt Nam theo hƣớng hiện đại.
Theo chúng tôi, trong văn xuôi, một số cây bút tiêu biểu của văn học Việt
Nam từ thời kỳ Đổi mới đến nay nhƣ Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo
Ninh, Nguyễn Bình Phƣơng, Hồ Anh Thái…đã có ý thức sử dụng liên văn bản
trong sáng tác. Đây là một trong số những nổ lực nghệ thuật của nhà văn. Họ tiếp
tục tinh thần phê phán và nhân bản, khơi sâu vào các vấn đề thế sự, đời tƣ, phát hiện
những mặt trái của nhân sinh, xã hội, văn hóa; tự vấn, phản biện, đối thoại với tinh
thần dân chủ, cởi mở. Họ kiếm tìm và thử nghiệm những hình thức nghệ thuật mới
khá đa dạng: đối thoại với văn bản xã hội (social text) và diễn ngôn tập thể
(collective discourse); vay mƣợn và giễu nhại huyền thoại, cổ tích; quan tâm đến
việc trích dẫn, viết lại, viết tiếp những văn bản cũ; pha trộn thể loại, hƣ cấu lịch sử,
giễu nhại văn chƣơng và văn hóa truyền thống có tính chất khuôn sáo, giáo điều, bề
trên…Trong văn học thời kỳ Đổi mới, có thể nói Nguyễn Huy Thiệp là một trong số
những cây bút tiêu biểu nhất và có những đóng góp lớn. Ông chịu ảnh hƣởng từ
nhiều nguồn khác nhau: lịch sử, huyền thoại, tôn giáo, văn hóa bác học và bình dân,
nông thôn và đô thị, quá khứ và hiện hành, bản địa và ngoại lai. Nhiều nhà văn tiền
nhân nhƣ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hƣơng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Puskin,
Dostoevsky, Bồ Tùng Linh trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo và chất liệu văn
chƣơng trong sáng tác của ông. Nhà văn đã sống và sáng tạo trong môi trƣờng sinh
thái văn học/văn hóa khát khao đổi thay, vƣơn xa hòa nhập với thế giới hiện đại,
dân chủ. Do đó, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều cách tân táo bạo và nhận
đƣợc sự ủng hộ nhiệt thành của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín.
Nguyễn Huy Thiệp đã gây xôn xao dƣ luận trong một thời gian dài. Tầm vóc của
ông có thể nói là ít nhiều mang tính quốc tế. Ngƣời ta bàn nhiều về ông, sách của
ông đƣợc dịch in ở nhiều nƣớc trên thế giới. Tác phẩm của ông là đối tƣợng nghiên
3
cứu có sức hấp dẫn từ các lập trƣờng và phƣơng pháp khác nhau nhƣ phân tâm học,
văn hóa học, phê bình huyền thoại, thi pháp học, trần thuật học, xã hội học…Trên
cơ sở tiếp cận liên văn bản sáng tác Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi xác định mục
đích thứ hai cho luận án là có thể mang lại những khám phá mới, khác về tƣ tƣởng
và nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp, hoặc có cách kiến giải phù hợp với một số vấn đề
phức tạp đƣợc khơi động từ những sáng tác của ông trong dòng chảy văn học Việt
Nam thời kỳ Đổi mới. Đó là những lí do cơ bản, cần thiết để chúng tôi lựa chọn
thực hiện đề tài Liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp.
2. Cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lí thuyết
Nhƣ chúng tôi đã nêu ở trên và sẽ diễn giải cụ thể ở phần sau, lí thuyết liên
văn bản rất phức tạp, xuyên trƣờng phái, đa nguyên. Bởi vậy, trong nghiên cứu này,
sau khi phân tích các quan niệm của Bakhtin, Kristeva, Barthes, Bloom, Genette,
Riffaterre,…dựa trên những nét tƣơng đồng cơ bản trong quan niệm của họ, chúng
tôi mạnh dạn đƣa ra quan niệm về văn bản/liên văn bản nhƣ sau: Văn bản/liên văn
bản (text/intertext), là một chuỗi kí hiệu ngôn ngữ/phi ngôn ngữ (một phát ngôn,
một lời nói hoặc viết, một bức tranh, một bài hát, một bộ phim, một truyện ngắn,
kịch, tiểu thuyết, bài thơ),…có nghĩa/ý nghĩa; được kiến tạo, sản sinh từ những văn
bản khác, có mối quan hệ với những văn bản khác, gây ra tương tác đối thoại với
mạng lưới tri thức/trải nghiệm văn bản vốn có ở người đọc. Mỗi văn bản nghệ thuật
của Nguyễn Huy Thiệp là một không gian của sự tích hợp, thẩm thấu, chuyển hóa,
đối thoại, tƣơng tác, ảnh hƣởng, trích dẫn, giễu nhại, pha trộn và kết nối đến những
văn bản khác, vốn có trƣớc đó, đồng văn hóa hoặc dị văn hóa. Do đó, chúng tôi xác
định hai nội dung cơ bản để giải quyết vấn đề liên văn bản trong sáng tác Nguyễn
Huy Thiệp: đối thoại liên văn bản (intertextual dialogism) và những hình thức/kiểu
liên văn bản (forms/types of intertextuality) trong sáng tác của ông.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phƣơng pháp, trong đó phƣơng pháp lịch
sử – loại hình và phƣơng pháp cấu trúc – hệ thống đƣợc sử dụng chủ yếu.
Phƣơng pháp lịch sử – loại hình: Chúng tôi khảo sát lịch sử hình thành và
vận động của lý thuyết liên văn bản, đặc trƣng và nội hàm của khái niệm qua từng
nhà lập thuyết – thực hành và từng thời điểm. Những công trình của những nhà lí
thuyết liên văn bản nhƣ Bakhtin, Kristeva, Barthes, Bloom, Genette, Riffaterre sẽ
đƣợc phân tích, đánh giá chủ yếu theo phƣơng pháp trên.
4
Phƣơng pháp cấu trúc – hệ thống: Trƣớc hết, chúng tôi dùng để nghiên cứu
một cách hệ thống tƣ tƣởng của từng nhà lập thuyết về tính liên văn bản. Sau đó, nó
đƣợc dùng thƣờng xuyên để nghiên cứu thực tiễn liên văn bản trong sáng tác
Nguyễn Huy Thiệp: xem toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp nhƣ một hệ thống,
xem mỗi văn bản/toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp nhƣ một liên văn bản, đặt
nó trong mạng lƣới quan hệ với các văn bản khác (văn bản xã hội và diễn ngôn tập
thể), xem xét nó qua những quan hệ và đối thoại liên văn bản (intertextual
relationships/dialogues), từ đó có những đánh giá, kết luận cần thiết.
Ngoài ra, các thao tác nghiên cứu nhƣ thống kê, so sánh, phân tích văn bản
văn học, đối chiếu các đoạn văn, diễn ngôn và từ vựng giữa các văn bản đƣợc vận
dụng rộng rãi. Các phƣơng pháp liên ngành khác nhằm làm nổi bật tính liên văn bản
trong mỗi văn bản – tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp cũng đƣợc chú ý.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án trƣớc hết là lí thuyết về tính liên văn bản,
tiếp đó là tiếp cận liên văn bản sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Hai đối tƣợng này có
quan hệ mật thiết với nhau vì chỉ có thể tiếp cận liên văn bản sáng tác Nguyễn Huy
Thiệp khi có những tri thức tƣơng đối hệ thống về lí thuyết liên văn bản và lí thuyết
sẽ trở nên sáng rõ và gần gũi hơn khi đƣợc soi chiếu, liên hệ từ thực tiễn sáng tác
của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Cũng bởi vậy nên trong khi trình bày, phân tích lí
thuyết liên văn bản, cho phép chúng tôi đƣợc sử dụng những ví dụ quen thuộc từ
sáng tác của ông. Mặt khác, đối tƣợng chính của đề tài là tập trung tiếp cận liên văn
bản sáng tác Nguyễn Huy Thiệp, nhƣng vì lí thuyết liên văn bản hết sức phức tạp,
đa hƣớng, xuyên trƣờng phái, lại chƣa đƣợc dịch và giới thiệu ở Việt Nam một cách
hệ thống, nên tác giả luận án thấy cần thiết phải có một chƣơng nghiên cứu riêng về
lí thuyết này. Đây là công việc hết sức khó khăn với chúng tôi, bởi vì thật khó để
chiếm lĩnh tƣ tƣởng của các nhà lập thuyết và thực hành liên văn bản trong hơn một
thế kỉ vừa qua, bắt đầu với Saussure, các nhà Hình thức luận Nga, các triết gia hiện
tƣợng học và triết học ngôn ngữ…cho đến các nhà giải cấu trúc – hậu hiện đại
đƣơng thời. Bởi vậy, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu lí thuyết liên văn bản
trong khuôn khổ tƣ tƣởng của một số nhà lập thuyết tiêu biểu nhƣ Bakhtin,
Kristeva, Barthes, Bloom, Riffaterre, Genette. Những quan niệm và cách tiếp cận
khác về tính liên văn bản, đặc biệt từ hƣớng triết học ngôn ngữ,…vẫn chƣa đƣợc tác
giả luận án giải quyết. Việc tiếp cận liên văn bản sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng
chỉ giới hạn trong một số khía cạnh tiêu biểu nhất nhƣ đối thoại liên văn bản, ảnh
5
hƣởng và đọc sai, trích dẫn và giễu nhại, pha trộn thể loại. Các khía cạnh khác nhƣ
đối thoại nội văn bản, đối thoại xã hội, ám chỉ, đạo văn, cận văn bản, chuyển dịch,
tu chỉnh…chỉ đƣợc phân tích sơ lƣợc, dẫn dụ để minh họa lí thuyết chứ chƣa đƣợc
khảo sát chi tiết. Chúng tôi hi vọng những khía cạnh còn để ngỏ đó sẽ đƣợc triển
khai nghiên cứu ở cấp độ khác, trong khuôn khổ khác, chuyên sâu hơn, hòng thỏa
mãn yêu cầu của ngƣời đọc có quan tâm đến lí thuyết và thực tiễn liên văn bản.
4. Đóng góp của luận án
Về lí thuyết: trong tình hình việc giới thiệu lí thuyết về tính liên văn bản ở
nƣớc ta còn đơn lẻ, sơ lƣợc, chúng tôi cố gắng trình bày tƣơng đối ngắn gọn hệ
thống lí thuyết này, trên phƣơng diện lịch sử và cấu trúc, qua tƣ tƣởng của một số
đại biểu nhƣ Bakhtin, Kristeva, Barthes, Bloom, Riffaterre, Genette.
Về thực tiễn: thể nghiệm phân tích đối thoại liên văn bản và các hình thức
liên văn bản nổi bật trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp nhằm làm sáng rõ lí thuyết,
đồng thời qua đó đánh giá đặc sắc tƣ tƣởng – nghệ thuật của nhà văn trong tƣ cách
một hiện tƣợng văn học có nhiều đóng góp cho văn học Đổi mới ở Việt Nam.
5. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, phần Phụ
lục, phần Nội dung luận án đƣợc triển khai thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chƣơng 2. Một số vấn đề lí thuyết về tính liên văn bản
Chƣơng 3. Đối thoại liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
Chƣơng 4. Các hình thức liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Phần Tổng quan này, chúng tôi trình bày hai vấn đề cơ bản. Một là, tình hình
nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới và ở Việt Nam. Hai là, tình hình
nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Thiệp. Ở khía cạnh thứ nhất, chúng tôi chú trọng
nhiều vào tình hình nghiên cứu liên văn bản ở Việt Nam. Riêng tình hình nghiên
cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới sẽ đƣợc chúng tôi lồng vào phân tích chi tiết
ở chƣơng sau. Ở khía cạnh thứ hai, luận án chú ý nhiều đến những nghiên cứu trực
tiếp bàn về sáng tác Nguyễn Huy Thiệp và có lƣu ý đến những bài viết tiếp cận sáng
tác của ông từ góc độ liên văn bản.
1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản trên thế giới
Khởi nguồn của lí thuyết liên văn bản (LVB) là những nghiên cứu của nhóm
Tel Quel và tạp chí cùng tên tại Pháp những năm 1960. Từ đó đến nay, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu – phê bình có liên quan luận bàn về lí thuyết và vận
dụng nó trong nghiên cứu văn học/văn hóa. Do khuôn khổ luận án và khả năng tƣ
liệu nên chúng tôi chỉ quan tâm đến những nghiên cứu lí thuyết LVB trên mảng tƣ
liệu tiếng Anh. Về phƣơng diện tổng thuật, phân tích lí thuyết, đáng chú ý là phần
dẫn luận trong công trình Intertextuality: Theories and practices (Tính liên văn bản:
Lí thuyết và thực tiễn –1990) của M.Worton và Judith Still, những tóm lƣợc và diễn
giải ngắn gọn của R.Stam, R.Burgoyne, S.F.Lewis trong New Vocabularies in Film
Semiotics (Từ vựng mới trong kí hiệu học điện ảnh, 1992), những phân tích tổng
thể, toàn diện trong công trình Intertextuality (Tính liên văn bản – 2000) của
Graham Allen, những thảo luận trong Intertextuality: Debates and Contexts (Tính
liên văn bản: Tranh luận và ngữ cảnh – 2003) của Mary Orr…Nhìn chung, tình hình
nghiên cứu lí thuyết LVB đến thời điểm hiện nay đã khá thống nhất trên một số vấn
đề cơ bản.
Một là, về sự xuất hiện của khái niệm: tất cả các công trình nghiên cứu đều
khẳng định Kristeva đã đặt ra thuật ngữ này vào khoảng năm 1966 và công bố năm
1967 trong bài báo Từ, Đối thoại và Tiểu thuyết ( tiêu đề bài báo này chúng tôi dịch
theo bản tiếng Anh, Word, Dialogue and Novel của Toril Moi trong sách The
Kristeva Reader. Riêng bản tiếng Pháp có tên đầy đủ là Bakhtine, le mot, le
dialogue et le roman). Bài báo này ra đời trên cơ sở Kristeva nghiên cứu rất kỹ các
7
công trình của Bakhtin nhƣ Vấn đề nội dung, hình thức và chất liệu nghệ thuật ngôn
từ, Những vấn đề thi pháp Dostoevsky, Sáng tác F.Rabelais và văn hóa dân gian
trung cổ và Phục hưng,…Thuật ngữ của Kristeva gần gũi với các thuật ngữ của
Bakhtin nhƣ tính đối thoại, tính lai ghép, diễn ngôn hai giọng…đồng thời cũng xuất
phát từ những sự phê phán của bà đối với các quan điểm của nhà ngôn ngữ học
ngƣời Thụy Sĩ, F.Saussure về bản chất mối quan hệ kí hiệu. Từ đây, đa số các công
trình đều thống nhất ở chỗ, coi Saussure, Bakhtin, Kristeva là những nhà lập thuyết
đầu tiên của tính LVB và tiến hành phân tích, thảo luận về những tƣ tƣởng của họ.
Sau Saussure, Bakhtin, Kristeva, diện khảo sát đƣợc mở rộng đến các công trình của
Barthes, Bloom, Eco, Derrida, Genette, Riffaterre, các nhà nữ quyền luận, tân lịch
sử, hậu thực dân…
Hai là, về nội hàm của khái niệm. Các công trình trên đều tránh đi đến một
định nghĩa duy nhất. Họ trình bày quan niệm của từng nhà tƣ tƣởng đối với vấn đề
tính LVB nhƣ Bakhtin, Kristeva, Barthes, Genette, Bloom, Riffaterre, các nhà nữ
quyền luận, hậu thực dân, hậu hiện đại…Nhìn chung, có hai cách tiếp cận thuật ngữ
này. Cách tiếp cận thứ nhất coi LVB nhƣ một thủ pháp văn học. Cách tiếp cận này
giới hạn tính LVB trong phạm vi các phƣơng thức tạo lập mối quan hệ giữa văn bản
(VB) hiện hành và những VB khác trƣớc đó. Sự kết nối LVB phải mang ý thức chủ
động và phải có dấu hiệu kết nối xuất hiện trong VB đang đƣợc khảo sát. Các mối
quan hệ LVB (intertextual relationships) nhƣ thế thƣờng đƣợc quy về các phƣơng
thức nhƣ mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, đạo văn, biên tập, tu chỉnh, chuyển dịch, ảnh
hƣởng, giễu nhại, pha trộn thể loại…Cách tiếp cận thứ hai có tính cách bản thể luận.
Cách tiếp cận này có thể thấy ở Bakhtin và hầu hết các nhà giải cấu trúc thời danh
nhƣ R. Barthes, J.Derrida, J.Kristeva, U.Eco. Trên cơ sở nền tảng: “không có gì ở
ngoài VB”, các nhà lí luận đi đến chỗ cho rằng mọi VB đều là LVB. Tất cả các VB
đƣợc kiến tạo dựa vào những mã và những quy tắc văn hóa hiện hành. Các VB
đƣợc xem nhƣ là “bức khảm các trích dẫn” và “không gian tiếng vọng”, nơi mà câu
hỏi về nguồn gốc của những trích dẫn và tiếng vọng đó biến mất. Nói cách khác,
tính LVB là thuộc tính của VB và là yêu cầu của mọi sự giao tiếp văn học.
Hai quan điểm trên đây đƣa lí thuyết LVB đi theo hai ngã rẽ khác nhau:
hƣớng cấu trúc – trần thuật với G.Genette, M.Riffaterre làm chủ soái và hƣớng giải
cấu trúc, tập hợp nhiều nhà lập thuyết có uy tín ở cả Pháp và Mỹ. Hƣớng cấu trúc –
trần thuật xem LVB nhƣ là những thủ pháp kiến tạo mối quan hệ giữa VB hiện hành
và VB khác ra đời trƣớc đó. Hƣớng giải cấu trúc xem mọi VB đều có những mối
8
quan hệ chằng chịt với các VB khác đƣợc gọi là các VB xã hội – đóng vai trò nhƣ
những mã, những mô thức, những tiền VB chi phối sự sinh thành của VB. Hai
hƣớng tiếp cận đều có những điểm tƣơng đồng và những chỗ mâu thuẫn, khác biệt.
Điều này sẽ đƣợc chúng tôi diễn giải và phân tích kỹ ở chƣơng sau.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam
Ngƣời giới thiệu và vận dụng lí thuyết LVB đầu tiên ở Việt Nam có lẽ là
Hoàng Trinh. Với những bài viết bàn về ký hiệu học trong những thập niên 1970 –
1980, có thể xem ông là nhà ký hiệu học đầu tiên giới thiệu và vận dụng lí thuyết
LVB. Trong công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1993), khi làm rõ khái
niệm VB, ông đã viết nhƣ sau: “Một VB bao giờ cũng kế thừa những VB có trƣớc
và bao giờ cũng mang nhiều tiếng nói hội nhập vào nhau. Đó là tính LVB của mọi
VB”. Ông giải thích thêm: “một tác phẩm văn học mang dấu ấn của sự kế thừa và
của tính LVB rất rõ ở nhiều chỗ tác phẩm trƣớc đó đã đƣợc tác giả sau này đọc, mô
phỏng tham khảo hoặc vận dụng”. Đồng thời Hoàng Trinh phân biệt sự khác biệt
giữa thuật ngữ LVB với thuật ngữ tính đối thoại của Bakhtin. Theo ông, tính đối
thoại là quan hệ vi mô, tồn tại trong một VB, còn tính LVB là vĩ mô, là quan hệ
giữa VB này với VB khác. Tuy nhiên, ở chỗ khác ông lại đồng nhất hai thuật ngữ
này khi viết: “Mặt khác, ngay trong một tác phẩm cũng có nhiều tiếng nói: tác giả,
quần chúng, thời đại, nhân vật. Đó là tính LVB hay tính đối thoại của văn học”.
Ông còn cho rằng, “lí luận về thi pháp học của Bakhtin (Liên xô) đã chỉ rõ tính
LVB trong tác phẩm của Ra-bơ-le (Rabelais) và Đô-xtôi-ép-xki, tạo ra tính “đa âm”
(polyponique) và “tính đối thoại” (dialogique) hết sức chân thực và sống động trong
các tiểu thuyết” [185, tr476]. Về điểm này, theo chúng tôi thì bản thân tính đa âm,
tính đối thoại là những cách gọi khác của tính LVB (Chúng ta cần lƣu ý rằng
Bakhtin không dùng thuật ngữ tính liên văn bản). Cũng trong công trình này, Hoàng
Trinh giới thiệu phƣơng pháp phân tích thơ của M.Riffaterre, qua đó, gián tiếp giới
thiệu quan niệm LVB của nhà cấu trúc – ký hiệu học này. Tuy nhiên, vì thiếu tính
lịch sử – hệ thống, lại xuất hiện tiên phong trong một hoàn cảnh văn hóa không
thuận lợi nên lí thuyết LVB mà Hoàng Trinh giới thiệu chƣa gây đƣợc những hiệu
ứng đáng kể.
Công trình thứ hai có nhắc đến thuật ngữ LVB khá sớm nữa là bài giới thiệu
Bakhtin của Trần Đình Sử (Những vấn đề thi pháp Đốt-xtôi-épxki - 1993). Trong
bài viết này, ông khẳng định vai trò đặc biệt của tác phẩm, giới thiệu những tƣ
tƣởng của Bakhtin về thi pháp học, tính đối thoại, về tiểu thuyết đa thanh/phức điệu
9
và có nhắc đến thuật ngữ LVB. Ông viết: “Ở đâu cuốn sách [Những vấn đề thi pháp
Đốt-xtôi-épxki] cũng gây đƣợc hứng thú sâu sắc, thúc đẩy tìm tòi. J.Krixtêva
[J.Kristeva] vận dụng quan niệm đối thoại của Bakhtin đã xây dựng khái niệm LVB
đƣợc công nhận rộng rãi ở phƣơng Tây”. Tất nhiên, nhƣ chúng tôi sẽ trình bày ở
chƣơng sau, sự kiện Kristeva vận dụng Bakhtin để sáng tạo ra thuật ngữ mới gắn bó
chặt chẽ với không khí học thuật Pháp khi ấy, thời điểm tƣ tƣởng giải cấu trúc nảy
sinh, đòi xem xét lại toàn bộ các quan niệm của chủ nghĩa cấu trúc về văn học và
ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh sự bất ổn của nghĩa và đòi tuyên cáo về cái chết của
chủ thể. Do vậy tính đối thoại (của Bakhtin) và tính liên văn bản (ở Kristeva và các
nhà giải cấu trúc khác) có nhiều điểm khác biệt [201], [223]. Lúc bấy giờ, Trần
Đình Sử không quan tâm nhiều đến vấn đề này. Trung tâm chú ý của ông là lí
thuyết thi pháp học. Về sau (2008), trong giáo trình Lí luận văn học (Tập 2) Tác
phẩm và thể loại văn học, ông có cập nhật ngắn gọn lí thuyết LVB khi diễn giải
quan niệm của Kristeva và R.Barthes về VB và tác phẩm văn học. Theo chúng tôi,
ngƣời chỉ rõ mối quan hệ giữa tính đối thoại và tính LVB, vận dụng nó một cách
nhuần nhị là Đỗ Đức Hiểu. Trong bài viết Về Bakhtin [62], ông viết rằng “Julia
Kristéva phát triển tính đối thoại của Bakhtin thành khái niệm “tính LVB”
(Intertextualité)”. Trƣớc đó, ông viết: “Tiểu thuyết, bản thân nó là đối thoại hết sức
đa dạng và phức hợp. Đa âm, hoặc LVB (Intertextualité), bởi vì nó đối thoại với các
VB đồng thời, nó quan hệ với các VB khác, trƣớc nó và sau nó, với các cấu trúc xã
hội, nghệ thuật và văn hóa”. Nhƣ thế, theo Đỗ Đức Hiểu, tính đa âm = tính đối thoại
= tính LVB. Mặc dù có những điểm khác biệt giữa quan niệm tính LVB của
Kristeva và quan niệm tính đối thoại ở Bakhtin, nhƣng về cơ bản, chúng tôi đồng ý
với nhận định rằng, bản thân các quan niệm về tính đa âm, tính đối thoại của
Bakhtin cũng chính là những quan niệm khác nhau về tính LVB. Đỗ Đức Hiểu
khẳng định tính đối thoại trong quan niệm của Bakhtin bao gồm cả mối quan hệ
giữa VB với VB xã hội (social text) (tức là những lời nói, những câu chuyện) nằm
ngoài VB. Ta thấy quan niệm của Đỗ Đức Hiểu tỏ ra phù hợp với cách hiểu hiện
thời của thuật ngữ. Hơn nữa, Đỗ Đức Hiểu, bằng tài hoa của mình, đã có những
trang viết rất xuất sắc mà trong đó có thể thấy ông đã vận dụng tinh thần đối thoại ở
Bakhtin, tính LVB ở Kristeva một cách nhuần nhị. Tiêu biểu nhất phải kể đến bài
Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ, Đọc Phạm Thị Hoài. Chẳng hạn, ông cho rằng
Số đỏ “là một cuốn bách khoa các loại hình tiểu thuyết”, “một LVB mang nhiều lớp
ý nghĩa”, “một hệ thống ký hiệu vạn năng”, “một tiểu thuyết đa thanh đa nghĩa”,