Siêu thị PDFTải ngay đi em, trời tối mất

Thư viện tri thức trực tuyến

Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật

© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Bài Giảng Thống Kê Kinh Tế
PREMIUM
Số trang
177
Kích thước
1.3 MB
Định dạng
PDF
Lượt xem
1886

Bài Giảng Thống Kê Kinh Tế

Nội dung xem thử

Mô tả chi tiết

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017

THS. NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

THS. VÕ THỊ HẢI HIỀN

THèNG K£ KINH TÕ

1

THS. NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, THS. VÕ THỊ HẢI HIỀN

BÀI GIẢNG

THỐNG KÊ KINH TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017

2

3

LỜI NÓI ĐẦU

Thống kê kinh tế là một trong những bộ phận quan trọng nhất, cấu thành

khoa học thống kê, đồng thời cũng là một trong các hoạt động chính của cơ quan

thống kê quốc gia với chức năng đảm bảo thông tin cho các cơ quan nhà nước,

các tổ chức và doanh nghiệp cũng như toàn xã hội.

Môn Thống kê kinh tế là môn học trong khung chương trình đào tạo ngành

kế toán và các ngành kinh tế khác của trường Đại học Lâm Nghiệp. Nhằm trang

bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cơ bản về thống kê kinh tế trong

nền kinh tế.

Kết cấu bài giảng gồm 5 chương nhằm phục vụ công tác giảng dạy cho sinh

viên chuyên ngành kế toán và một số ngành kinh tế khác thuộc hệ đào tạo của

trường Đại học Lâm Nghiệp.

Bài giảng Thống kê kinh tế do tập thể tác giả Bộ môn Tài chính kế toán,

biên soạn bao gồm:

- Thạc sỹ Nguyễn Thị Mai Hương biên soạn chương 2, chương 3;

- Thạc sỹ Võ Thị Hải Hiền biên soạn chương 1, chương 4 và chương 5;

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã cố gắng kết hợp cơ sở lý luận

gắn liền với thực tiễn để đảm bảo tính thời sự và khoa học.Tuy nhiên không

tránh khỏi những hạn chế còn gặp phải. Do vậy, tập thể tác giả kính mong nhận

được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để lần xuất bản tới Bài giảng được hoàn

thiện hơn.

Nhóm tác giả

4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXH Bảo hiểm xã hội

CCQD Của cải quốc dân

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

CPSX Chi phí sản xuất

DT Doanh thu

ĐVT Đơn vị tính

GDP Tổng sản phẩm trong nước

GO Giá trị sản xuất

IC Chi phí trung gian

ICOR Hệ số sinh lời vốn đầu tư

ISIC Hệ thống ngành kinh tế tiêu chuẩn quốc tế

KTQD Kinh tế quốc dân

KTXH Kinh tế xã hội

KVTC Khu vực thể chế

SNA Hệ thống tài khoản quốc gia

TDCC Tiêu dùng cuối cùng

TDTG Tiêu dùng trung gian

TSCĐ Tài sản cố định

TSLĐ Tài sản lưu động

VA Giá trị gia tăng

VAT Thuế giá trị gia tăng

VĐT Vốn đầu tư

VSIS Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam

5

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THỐNG KÊ KINH TẾ

1.1. Những vấn đề chung về thống kê kinh tế

1.1.1.Vị trí, vai trò của thống kê kinh tế

1.1.1.1.Vị trí của thống kê kinh tế

Sản xuất xã hội phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội loài

người. Sản xuất càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội càng cao, sự

hợp tác và liên kết trong sản xuất càng mở rộng. Sự hợp tác và liên kết trong sản

xuất không chỉ diễn ra giữa các đơn vị kinh tế, các ngành, các địa phương trong

nước mà còn mở rộng ra phạm vi thế giới theo các phương thức khác

nhau.Trong bối cảnh đó, sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước là hết sức quan

trọng và cần thiết, nhất là trên bình diện vĩ mô. Muốn quản lý và điều tiết của

nhà nước nền xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần nắm

vững được những thông tin kinh tế cần thiết. Vì thế, thống kê kinh tế - với tư

cách là công cụ để nhận thức và quản lý quá trình sản xuất nói riêng, quản lý

kinh tế nói chung, đã ra đời khá sớm và không ngừng phát triển.

Thống kê kinh tế ra đời và phát triển theo sự phát triển của xã hội. Trong

các chế độ nô lệ, phong kiến, thống kê kinh tế chỉ mới tiến hành thống kê các

chỉ tiêu hiện vật, đơn giản. Thống kê kinh tế phát triển nhanh, phong phú cả về

quy mô tổ chức cũng như phương pháp luận và hệ thống chỉ tiêu trong các nước

xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Hệ thống thống kê kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phục vụ đắc lực cho công

tác kế hoạch hoá, cho quản lý trong một thời gian dài và đã đạt những thành tựu

đáng kể. Tuy vậy, có rất nhiều hạn chế, chủ yếu tính các chỉ tiêu kinh tế trong

lĩnh vực sản xuất vật chất, nặng nề về hình thái hiện vật, có nhiều khó khăn

trong so sánh quốc tế. Hệ thống thống kê kinh tế theo cơ chế thị trường phát

triển đa dạng, xâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, quan tâm

cả hình thái hiện vật lẫn giá trị. Trong điều kiện mở rộng giao lưu hợp tác kinh

tế quốc tế, đưa Việt Nam hoà nhập vào kinh tế thế giới và khu vực, việc nghiên

cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và phương pháp luận tính các chỉ tiêu thống kê

kinh tế theo hướng so sánh được với thống kê nước ngoài và quốc tế là nhiệm vụ

hết sức cần thiết và cấp bách, góp phần đưa trình độ thống kê Việt Nam dần tiến

6

kịp trình độ thống kê thế giới và khu vực.

Thống kê kinh tế (theo nghĩa rộng) có nhiều bộ phận (ngành). Một bộ

phận đi sâu nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội diễn ra trong phạm vi

doanh nghiệp gọi là Thống kê kinh tế vi mô (thống kê doanh nghiệp).Bộ phận

khác nghiên cứu hiện tượng chung của nền kinh tế, phục vụ quản lý nền kinh tế

trên bình diện vĩ mô. Đó là thống kê kinh tế vĩ mô (thống kê kinh tế). Thống kê

kinh tế vi mô và Thống kê kinh tế vĩ mô có quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau

phát triển.

1.1.1.2. Vai trò của thông tin kinh tế, xã hội trong nền kinh tế

Trong hệ thống thông tin phục vụ quản lý, thông tin thống kê nói chung,

thông tin thống kê kinh tế nói riêng (thông tin về nguồn lực của nền kinh tế, thị

trường,liên doanh, liên kết, kết quả hoạt động sản xuất, hiệu quả sản xuất kinh

doanh của nền kinh tế) giữ vị trí quan trọng. Thống kê nói chung thống kê kinh

tế nói riêng, như Lê Nin nói, là một trong những công cụ sắc bén nhất, hùng

mạnh nhất để nhận thức hiện tượng kinh tế - xã hội. Chúng cung cấp những

thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác để quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý

nhà nước. Những thông tin này nêu rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình

kinh tế - xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa các hiện tượng, khả năng tiềm tàng

của nền kinh tế. Chúng cung cấp những thông tin về sự phát triển kinh tế - xã

hội trong tương lai (dự đoán ngắn hạn) của đất nước trong mối liên hệ với thế

giới bên ngoài. Đó là những thông tin cực kỳ cần thiết cho lãnh đạo và chỉ đạo

nền kinh tế, làm căn cứ cho hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội.

Chính vì vậy, tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế đều có cơ quan thống kê

riêng của mình.

Trong cơ chế thị trường, yêu cầu thông tin nhanh, chính xác lại càng quan

trọng đối với quản lý sản xuất- kinh doanh ở tầm vi mô cũng như ở tầm vĩ mô.

Đặc biệt, tổ chức và quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô đòi hỏi những thông tin kinh tế￾xã hội tổng hợp, thu được từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ hoạch định các

chính sách kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, thống kê kinh tế - một bộ phận của khoa

học thống kê ngày càng trở nên cần thiết, quan trọng trong nền kinh tế thị

trường.

7

1.1.2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh tế

Thống kê kinh tế là một bộ phận của thống kê học - một môn khoa học xã

hội, tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ với các bộ phận khác. Nó vừa giống vừa

khác với bộ phận khác. Điều đó được thể hiện trước hết ở đối tượng và phương

pháp nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của Thống kê kinh tế là mặt lượng trong

mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn diễn

ra trong toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế

quốc dân, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

Đặc trưng của thống kê kinh tế là nghiên cứu mặt lượng. Nhưng mặt

lượng và mặt chất của các hiện tượng kinh tế không tách rời nhau, trái lại giữa

chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau.Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt

lượng và thông qua mặt lượng (khối lượng, quy mô, tốc độ phát triển, quan hệ tỷ

lệ...) của các hiện tượng kinh tế mà nêu lên bản chất và tính quy luật của hiện

tượng nghiên cứu. Nói Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ

mật thiết với mặt chất có nghĩa là nghiên cứu các quy luật số lượng, không

nghiên cứu mặt chất, cũng không nghiên cứu mặt lượng một cách tách biệt, mà

dùng con số, số lượng để biểu hiện bản chất và tính quy luật của hiện tượng.

Điều đó cũng có nghĩa là con số thống kê kinh tế là con số có nội dung kinh tế

cụ thể, được xác định bởi nội dung kinh tế đó. Do đó, con số của thống kê kinh

tế bao giờ cũng chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội cụ thể, rõ ràng và bao giờ

cũng có đơn vị tính phù hợp. Để tạo ra các con số của thống kê kinh tế, các nhà

thống kê cần hiểu rõ nội dung kinh tế của con số cần xác định. Để sử dụng có

hiệu quả con số thống kê, các nhà kinh doanh và quản trị cần hiểu đúng con số

thống kê kinh tế xét về mặt nội dung kinh tế của nó. Đây là điểm khác biệt giữa

thống kê nói chung và các khoa học khác. Quán triệt điều này để tránh việc biến

hoạt động thống kê thành trò chơi con số và tạo ra các con số chính xác của một

khối lượng không chính xác.

Điều đáng chú ý là thống kê kinh tế phải nghiên cứu số lớn các hiện tượng

để những nhân tố không bản chất được bù trừ và triệt tiêu, mặt bản chất của hiện

tượng mới được thể hiện rõ nét, tính quy luật của hiện tượng mới được khẳng

định. Như vậy, thống kê kinh tế nghiên cứu hiện tượng số lớn, không nghiên cứu

hiện tượng cá biệt, bỏ qua các hiện tượng cá biệt, đặc thù mà có nghĩa là thống

8

kê kinh tế chủ yếu nghiên cứu các hiện tượng số lớn.

Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt

chất của số lớn các hiên tượng kinh tế - xã hội. Điều này có nghĩa là thống kê

kinh tế chỉ nghiên cứu hiện tượng tự nhiên và kỹ thuật. Nó chỉ nghiên cứu ảnh

hưởng của các hiện tượng tự nhiên và kỹ thuật đến hiện tượng kinh tế - xã hội.

1.1.3. Một số khái niệm cơ bản

1.1.3.1. Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể

Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử)thuộc hiện tượng

nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích mặt lượng của chúng theo một

hoặc một số tiêu thức nào đó.

Các đơn vị này gọi là đơn vị tổng thể, như vậy thực chất việc xác định

tổng thể là xác định các đơn vị tổng thể. Ví dụ tổng thể dân số Việt Nam, đơn vị

tổng thể là mỗi công dân Việt Nam; tổng thể các doanh nghiệp công nghiệp của

Hà Nội, đơn vị tổng thể là từng doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thường trú

của Hà Nội tại một thời điểm xác định nào đó.

Trường hợp các đơn vị cấu thành tổng thể có thể thấy được bằng trực

quan gọi là tổng thể bộc lộ.Ví dụ số lượng sinh viên K61 Kế toán, dân số của

huyện Chương Mỹ…

Trường hợp các đơn vị cấu thành tổng thể không thể thấy được bằng trực

quan gọi là tổng thể tiềm ẩn.Ví dụ số lượng người yêu thích bóng đá…

Tổng thể bao gồm những đơn vị giống nhau ở một số đặc điểm chủ yếu

liên quan đến mục đích nghiên cứu gọi là tổng thể đồng chất, ngược lại gọi là

tổng thể không đồng chất. Tổng thể bao gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi

nghiên cứu gọi là tổng thể chung, chỉ bao gồm một bộ phận gọi là tổng thể bộ

phận, tổng thể bao gồm một số đơn vị được chọn ra theo phương pháp lấy mẫu

gọi là tổng thể mẫu.Tổng thể cũng có thể là hữu hạn, có thể là vô hạn, ví dụ tổng

thể trẻ em sơ sinh, tổng thể khách hàng đã sử dụng sản phẩm của nhà máy…Vì

vậy khi xác định tổng thể thống kê không chỉ giới hạn về thực thể (tổng thể gì)

mà còn phải giới hạn về không gian và thời gian.

1.1.3.2. Tiêu thức thống kê

Tiêu thức thống kê là khái niệm dùng để chỉ các đặc điểm của đơn vị tổng

thể.Ví dụ khi nghiên cứu dân số theo các tiêu thức giới tính, tuổi,khi nghiên cứu

9

doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn, lao động…

Theo đặc điểm tồn tại của hiện tượng tiêu thức thống kê chia thành hai

loại: tiêu thức thời gian và tiêu thức không gian, nó phản ánh hiện tượng tồn tại

bao giờ và ở đâu (của ai).

Theo thực thể tức bản chất của hiện tượng, tiêu thức thống kê chia thành

hai loại: tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng.

Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức phản ánh tính chất hay loại hình của đơn

vị tổng thể, không biểu hiện trực tiếp bằng con số, ví dụ tiêu thức giới tính, nghề

nghiệp… Tiêu thức thuộc tính có thể biểu hiện trực tiếp (nam, nữ) hay gián tiếp

(nhân cách…)

Tiêu thức số lượng là tiêu thức biểu hiện trực tiếp bằng con số, ví dụ tuổi,

chiều cao, sản lượng… Các trị số cụ thể khác nhau của tiêu thức số lượng gọi là

lượng biến.Ví dụ tuổi là tiêu thức số lượng,nhưng tuổi không phải là lượng biến,

lượng biến là 15 tuổi, 20 tuổi…Lượng biến có thể phân thành hai loại: lượng

biến rời rạc và lượng biến liên tục. Lượng biến rời rạc là lượng biến mà các giá

trị của nó có thể là hữu hạn hay vô hạn và có thể đếm được bằng số nguyên, ví

dụ số lượng sinh viên nghỉ học, số vụ khủng bố… Lượng biến liên tục là lượng

biến mà các giá trị của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục số, ví dụ trọng

lượng, chiều cao của người, năng suất lao động…

Tiêu thức thực thể khi chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau gọi là tiêu

thức thay phiên, ví dụ giới tính nam, nữ.

Tiêu thức giúp xác định rõ từng đơn vị tổng thể cũng như tổng thể thống

kê, nhờ đó có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác, tổng thể này với tổng thể khác.

1.1.3.3. Chỉ tiêu thống kê

Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất cơ

bản của hiện tượng số lớn trong thời gian và địa điểm cụ thể.

Chỉ tiêu thống kê có hai mặt khái niệm và mức độ. Khái niệm có nội dung

là định nghĩa và giới hạn về thuộc tính, thời gian và không gian. Mức độ phản

ánh quy mô, cường độ của hiện tượng và được đo bằng các thang đo khác nhau.

Chỉ tiêu thống kê thường mang tính tổng hợp, phản ánh mặt lượng của nhiều

đơn vị, nhiều hiện tượng cá biệt.

Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau để phân loại thì chỉ tiêu thống kê có

10

thể được phân thành các loại khác nhau.

Theo nội dung có thể chia các chỉ tiêu thành hai loại chỉ tiêu khối lượng

và chỉ tiêu chất lượng. Chỉ tiêu khối lượng là các chỉ tiêu biểu hiện quy mô của

tổng thể, ví dụ doanh thu lợi nhuận, dân số, lao động. Chỉ tiêu chất lượng là các

chỉ tiêu biểu hiện tính chất, trình độ phổ biến, mối quan hệ so sánh của tổng thể,

ví dụ giá thành biểu hiện quan hệ so sánh giữa tổng chi phí sản xuất với số

lượng sản phẩm, đồng thời phản ánh trình độ phổ biến về mức chi phí cho một

đơn vị sản phẩm đã được sản xuất ra. Chỉ tiêu chất lượng mang ý nghĩa phân

tích, trị số của nó được xác định chủ yếu từ việc so sánh giữa các chỉ tiêu khối lượng.

Theo đặc điểm về thời gian có chỉ tiêu thời điểm và chỉ tiêu thời kỳ. Chỉ

tiêu thời điểm phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm.

Chỉ tiêu thời kỳ phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu trong một thời kỳ

nhất định.

Theo hình thức biểu hiện (đơn vị tính), có chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá

trị. Chỉ tiêu hiện vật biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên, chỉ tiêu giá trị biểu hiện

bằng đơn vị tiền tệ. Ví dụ sản lượng sản xuất của công ty A năm 2015 là 2.050

sản phẩm, doanh thu là 20 tỷ đồng.

1.1.3.4. Thang đo trong thống kê

Để lượng hóa hiện tượng nghiên cứu, thống kê dùng các loại thang đo phù

hợp với tính chất của dữ liệu. Thống kê sử dụng 4 loại thang đo sau đây:

Thang đo định danh là mã số các biểu hiện cùng loại của tiêu thức, thường

dùng cho các tiêu thức thuộc tính.Ví dụ nam 1, nữ 2, hoặc các câu trả lời trong

phỏng vấn “có – không”, các con số không có quan hệ hơn kém.Thang đo này

dùng để đếm tần số của biểu hiện tiêu thức.

Thang đo thứ bậc là thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu

thức có quan hệ thứ bậc hơn kém, nhưng sự chênh lệch giữa các biểu hiện không

nhất thiết phải bằng nhau.Ví dụ: huân chương hạng nhất, nhì, ba, huy chương

vàng, bạc, đồng…

Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có khoảng cách đều nhau nhưng

không có điểm gốc là 0 nên không so sánh được tỷ lệ giữa các số đo. Ví dụ nhiệt

độ 32o

C < 35o

C và 52o

C < 55o

C cho phép đo chính xác sự khác nhau giữa hai

khoảng bất kỳ, việc cộng trừ các con số là có ý nghĩa. Khoảng cách đều là yêu

11

cầu với thang đo nhưng biểu hiện của tiêu thức thì không nhất thiết phải bằng nhau.

Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm 0 tuyệt đối (số không là

điểm gốc), để có thể so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đó. Điểm 0 được coi là

điểm xuất phát của số đó.

1.1.4.Các đại lượng thường dùng trong thống kê

Mỗi đặc điểm cơ bản của hiện tượng kinh tế xã hội thường được biểu hiện

ở các đại lượng (mức độ) khác nhau. Mức độ đầu tiên được biểu hiện trong

thống kê là số tuyệt đối.

1.1.4.1. Số tuyệt đối

a.Khái niệm

- Số tuyệt đối trong thống kê là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng của

hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

- Số tuyệt đối nói lên số đơn vị của tổng thể hay của bộ phận (số doanh

nghiệp, số công nhân, số sinh viên…) hoặc các trị số một tiêu thức nào đó (giá

trị sản xuất nông nghiệp, tổng chi phí sản xuất…).

Ví dụ: Số lượng sinh viên lớp nguyên lý thống kê L05 – K60 kế toán là

95người, doanh thu của công ty A năm 2015 là 150 tỷ đồng… Các con số thống

kê trên đều là số tuyệt đối.

b. Ý nghĩa

- Số tuyệt đối trong thống kê có ý nghĩa quan trọng cho mọi công tác

nghiên cứu kinh tế, vì thông qua số tuyệt đối sẽ có một nhận thức cụ thể về quy

mô, khốilượng thực tế của hiện tượng nghiên cứu.

- Nhờ số tuyệt đối có thể biết cụ thể nguồn tài nguyên, các tiềm năng của

nền kinh tế quốc dân, các kết quả phát triển kinh tế, văn hoá, các thành quả lao

động màmọi người đã phấn đấu đạt được.

- Số tuyệt đối là cơ sở đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê, đồng thời là

cơ sở để tính các số tương đối và số bình quân.

- Số tuyệt đối trong thống kê còn là căn cứ không thể thiếu được trong việc

xây dựng các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và tổ chức

chỉ đạo thực hiện chúng.

Do có ý nghĩa quan trọng như vậy, thống kê học coi số tuyệt đối là loại chỉ

tiêu cơ bản nhất.

12

c.Đặc điểm

- Mỗi số tuyệt đối trong thống kê đều bao hàm một nội dung kinh tế - xã

hội cụ thể trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định và nó khác với các đại

lượng tuyệt đối trong toán học.

- Số tuyệt đối trong thống kê không phải là con số lựa chọn tùy tiện mà

phải thông qua điều tra thực tế và tổng hợp một cách khoa học. Cũng có khi còn

phải dùng các phương pháp tính toán khác nhau mới có được số tuyệt đối.

Ví dụ: Muốn có được số liệu vềnguyên vật liệu tồn kho phải căn cứ vào sổ

sách và kiểm kê thực tế.

d.Đơn vị tính

Tùy theo tính chất của hiện tượng và mục đích nghiên cứu, số tuyệt đối có

thể được tính bằng đơn vị tự nhiên, đơn vị thời gian lao động và đơn vị tiền tệ.

- Đơn vị tự nhiên (đơn vị hiện vật) là đơn vị tính toán phù hợp với đặc điểm

vật lý của hiện tượng, các hiện tượng này có thể được tính theo chiều dài, theo

diện tích, theo trọng lượng, theo dung tích, theo số đơn vị tổng thể (cái, con,

chiếc...), số người, số sự kiện, số hiện tượng.

Trong một số trường hợpphải sử dụng đơn vị kép để tính toán như sản

lượng điện (kw/h). Trong sản xuất những sản phẩm giống nhau về giá trị sử

dụng nhưng khác nhau về kích thước, trọng lượng, công suất… người ta dùng

đơn vị hiện vật tiêu chuẩn.

Ví dụ: Máy kéo có công suất tiêu chuẩn 15 mã lực…

- Đơn vị thời gian lao động như giờ công, ngày công… thường dùng để

tính lượng lao động hao phí để sản xuất ra những sản phẩm không thể tổng hợp

hoặc so với nhau bằng các đơn vị tính toán khác hoặc những sản phẩm phức tạp

do nhiều người lao động thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau. Đơn vị này

thường dùng trong công tác định mức thời gian cho sản xuất, tính năng suất lao

động, quản lý thời gian lao động của đơn vị.

Đơn vị tiền tệ được sử dụng để biểu hiện giá trị sản phẩm. Nó giúp cho việc

tổng hợp nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng và đơn vị đo lường khác nhau.

Tuy nhiên, do giá cả hàng hóa luôn thay đổi, đơn vị tiền tệ trở nên không có tính

chất so sánh được qua thời gian.

13

e. Các loại số tuyệt đối

Tùy theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu và khả năng thu thập tài liệu

trong những điều kiện về thời gian khác nhau, có thể phân biệt 2 loại số tuyệt đối

sau:

Số tuyệt đối thời điểm

- Số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng

nghiên cứu vào một thời điểm nhất định.

Ví dụ: Giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp vào ngày 31/12/N là 20 triệu đồng.

Số tuyệt đối thời điểm chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng tại một thời

điểm nhất định. Các số tuyệt đối thời điểm không được cộng dồn vì trước và sau

thời điểm nghiên cứu trạng thái của hiện tượng có thể khác.

Số tuyệt đối thời kỳ

- Số tuyệt đối thời kỳ phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên

cứu trong một độ dài thời gian nhất định.

Ví dụ: Sản lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty trong năm 2015 là 2 nghìn tấn.

Số tuyệt đối thời kỳ hình thành do sự tích lũy về mặt lượng của hiện tượng

trong suốt thời gian nghiên cứu và có thể cộng lại được với nhau, thời gian càng

dài thì trị số của chỉ tiêu (sự tích lũy về mặt lượng)càng lớn.

1.1.4.2. Số tương đối

a.Khái niệm

- Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ

nào đó của hiện tượng nghiên cứu. Đó có thể là kết quả của việc so sánh giữa 2

mức độ cùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian và không gian hoặc

giữa 2 mứcđộ khác loại nhưng có liên quan với nhau.

Ví dụ: So sánh tổng doanh thu của công ty A năm 2015 với năm 2014; cơ

cấu giới tính lớp K60 kế toán là 95% nữ, 5% là nam…

b. Ý nghĩa

- Trong phân tích thống kê, số tương đối được sử dụng rộng rãi để nêu lên

kết cấu, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng

nghiên cứu trong điều kiện lịch sử nhất định.

- Số tương đối trong thống kê cũng nêu lên mặt lượng trong mối quan hệ

mật thiết với mặt chất của hiện tượng nghiên cứu.Tuy nhiên, trong khi các số

14

tuyệt đối chỉ mới khái quát được qui mô, khối lượng của hiện tượng thì số tương

đối giúp ta đi sâu vào đặc điểm của hiện tượng một cách có phân tích.

- Trong công tác lập kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch, số tương đối

luôn giữ vai trò quan trọng.

c.Đặc điểm

- Số tương đối trong thống kê không phải là con số thu thập được qua điều

tra mà là kết quả so sánh giữa hai chỉ tiêu đã có (nó phụ thuộc vào số tuyệt đối).

- Bất kỳ số tương đối nào cũng có gốc so sánh, tùy mục đích nghiên cứu

khác nhau mà ta chọn gốc so sánh khác nhau. Số tương đối được tính bằng phép

so sánh,do đó phản ánh hiện tượng một cách có phê phán, trong khi đó số tuyệt

đối thìkhông làm được.

- Hình thức biểu hiện: số lần, %, đơn vị kép (ví dụ: kg/người, người/km2

...)

Căn cứ theo nội dung mà số tương đối phản ánh,có thể chia thành 5 loại

sốtương đối sau đây:

d. Phân loại

Số tương đối động thái

- Số tương đối động thái (tốc độ phát triển) là kết quả so sánh hai mức độ

cùng loại của hiện tượng ở hai thời kỳ (hay thời điểm) khác nhau.

- Số tương đối động thái biểu hiện sự biến động về mức độ của hiện tượng

nghiên cứu qua một thời gian nào đó.

- Số tương đối động thái được sử dụng rộng rãi trong phân tích thống kê vì

nó xác định xu hướng biến đổi, tốc độ phát triển của hiện tượng qua thời gian.

- Đơn vị tính của loại hình số tương đối động thái là số lần hoặc phần trăm.

Công thức tính:

Trong đó:

θ(%): Số tương đối động thái;

y1: Mức độ của hiện tượng ở kì nghiên cứu;

y0: Mức độ của hiện tượng ở kì gốc;

Kỳ gốc ở đây có thể là kỳ liền trước đó (gốc liên hoàn) hoặc là một kỳ nào

đó được chọn để so sánh (gốc cố định).

%  100

0

1  

y

y 

Tải ngay đi em, còn do dự, trời tối mất!