Thư viện tri thức trực tuyến
Kho tài liệu với 50,000+ tài liệu học thuật
© 2023 Siêu thị PDF - Kho tài liệu học thuật hàng đầu Việt Nam

Tài liệu đang bị lỗi
File tài liệu này hiện đang bị hỏng, chúng tôi đang cố gắng khắc phục.
Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết linda lê
Nội dung xem thử
Mô tả chi tiết
ĐẠI HỌC ĐÀ NĂNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THỤC QUYÊN
TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT LINDA LÊ
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
VĂN HỌC VIỆT NAM
Đà Nẵng, năm 2019
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
N ƣ ƣ a học
PGS. TS. NGÔ MINH HIỀN
Phản biện 1: TS. Lê Thị Hường
Phản biện 2: TS. Bùi Bích Hạnh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ Văn học Việt Nam họp
tại Trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
vào ngày 06 tháng 01 năm 2019.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin- Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọ đề tài
Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật trong hai thập
niên đầu của thế kỉ XXI đã tác động sâu sắc đến đời sống của con người,
chi phối quan niệm nhân sinh và tâm thế sống của họ. Văn chương thế
giới nói chung và văn học di dân thế giới nói riêng cũng chuyển mình
thay đổi theo thời đại. Nằm trong dòng chảy chung của văn học di dân
thế giới và khu vực, văn học di dân (văn học hải ngoại) Việt Nam có sự
vận động và phát triển riêng của nó để hòa mình với những biến chuyển
của thời đại. Các sáng tác của văn học hải ngoại Việt Nam dù được viết
bằng tiếng mẹ đẻ hay tiếng bản xứ cũng đã đạt được nhiều thành tựu nổi
bật, vượt qua những rào cản về địa lí, văn hóa - ngôn ngữ và từng bước
chinh phục trái tim của độc giả ở nhiều nơi trên thế giới.
Trong số những nhà văn hải ngoại thành danh trên đất khách,
Linda Lê được đánh giá khá cao. Nữ văn sĩ đã tạo được tiếng vang lớn ở
Pháp bằng những tiểu thuyết độc đáo của mình. Bằng sự dấn thân vào
cuộc “phiêu lưu ngôn từ” trong suốt quá trình hấp thu, tiếp biến văn hóa,
cùng với khả năng mở rộng nhãn quan thẩm mỹ của một con người đã đi
nhiều, sống nhiều, Linda Lê đã biến tiểu thuyết thành “mảnh đất màu
mỡ” gởi gắm những nỗi niềm ưu tư, trăn trở kiến tạo cho riêng mình một
thế giới nghệ thuật đầy ám ảnh, đầy ắp những hoang mang, hoài nghi.
Sống trên đất Pháp từ năm mười bốn tuổi song những ký ức về
người cha, về chính trị, về sự lai căng, bội phản… đã không ngừng ám
ảnh Linda Lê. Có thể nói, sống giữa những va đập của các nền văn hóa
nhưng trong Linda Lê tâm thế của một “trú dân”, tâm thức Việt vẫn luôn
là những yếu tố tinh thần quan trọng kết thành tâm thức chi phối hành
trình sáng tác của nhà văn.
Khảo sát qua một số tiểu thuyết của Linda Lê như: Vu khống, Thư
chết, Tiếng nói, Sóng ngầm ta có thể nhận thấy dấu ấn hậu hiện đại thấm
đẫm trong từng trang văn của bà. Nỗi cô đơn, lạc loài trên đất khách, tâm
thế hoang mang, hoài nghi, ranh giới giữa chuẩn và phi chuẩn đang dần
bị xóa nhòa trong tâm thức của các nhân vật. Những tâm hồn mẫn cảm
ấy như đang từng ngày từng giờ bị nhấn chìm trong những nỗi đau tinh
thần nhức nhối. Tâm thức hậu hiện đại gần như trở thành hạt nhân, thành
dòng tâm thức xuyên suốt để Linda Lê triển khai tư tưởng nghệ thuật của
tiểu thuyết, dẫn dắt người đọc tìm hiểu, khai mở thế giới tâm hồn đa
dạng và phong phú của con người.
Chọn đề tài Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Linda Lê,
chúng tôi nhằm khám phá sự chi phối của tâm thức hậu hiện đại đối với
sáng tác của nữ văn sĩ, lý giải những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
2
của bà ở chiều sâu tâm thức sáng tạo. Qua đó, chúng tôi cũng mong
muốn khẳng định vai trò và sự đóng góp của nhà văn đối với văn học
Việt Nam nói riêng, văn học thế giới nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấ đề
Có rất nhiều ý kiến, nhận định khác nhau của các nhà phê bình
trong và ngoài nước bàn về tiểu thuyết Linda Lê.
Trần Thị Thơm tác giả của Con người nổi loạn trong tác phẩm
Linda Lê nhìn từ trường phái phê bình xã hội học đã khẳng định: nổi
loạn “là cách mà nhân vật của Linda Lê khước từ con đường nhỏ hẹp
tầm thường để dấn thân với con đường thênh thang tràn nhựa sống.
Trong suốt cuộc hành trình ấy, con người phải đối mặt với lắm sự trái
ngang, bị đẩy vào tận cùng của sự cô lập, cách biệt với cuộc đời, thế
nhưng họ vẫn quyết đi đến cuối con đường” [34, tr.110]. Theo nhà
nghiên cứu, nổi loạn còn là phương cách để Linda Lê tấn công trực diện
vào thành trì của cái ác: “Cự tuyệt truyền thống, cự tuyệt gia đình và
đem nỗi đau của mình ra mổ xẻ, để giải phẫu để thử nghiệm, đó là cách
mà nhân vật của Linda Lê sống thật nhất với cuộc đời” [34, tr.110].
Hoàng Thị Thu Hiền qua Cảm thức lưu vong trong văn xuôi Việt
Nam hải ngoại (Qua khảo sát tác phẩm của Thuận, Đoàn Minh Phượng,
Linda Lê và Nam Lê), đã đi sâu nghiên cứu và đánh giá: “Trong tác
phẩm của Đoàn Minh Phượng và Linda Lê, nhân vật của họ cũng sống
trong kí ức, lấy kí ức để níu kéo niềm vui sống ở thực tại. Trên những
bước đường tha hương, cả An Mi, Liên, Mai, người cậu, cô cháu gái…
đều mang trong mình ám ảnh về nguồn cội. Nhưng với hai nhà văn này,
nỗi hoài hương không được biểu lộ một cách rõ ràng như trong tác phẩm
của Thuận và Nam Lê. Trong tác phẩm của họ, kí ức chỉ là những mảnh
chắp vá rời rạc của những con người muốn chối từ quá khứ, lãng quên
những gì vốn dĩ thuộc về mình. Bởi lẽ, quá khứ ấy, xứ sở ấy ghi dấu bao
nỗi đau tinh thần mà họ phải chịu đựng. Nhưng dù muốn trốn chạy và
chối bỏ, quá khứ vẫn cứ đeo bám tâm thức họ và nấp bóng ở một nơi
chốn nào đó trong sâu thẳm tâm hồn những kẻ lạc xứ” [15, tr.48].
Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Linda Lê cũng được các
nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới góc độ của đề tài sáng tác. Trong bài viết
Linda Lê, người chọn một ngôn ngữ khác người viết của tạp chí Tia sáng
có nhận định: “Chọn cái ác làm “trung tâm” những miêu tả của mình,
Linda Lê không chỉ muốn tạo ra một phóng chiếu của cuộc đời thực nơi
cái ác lộng hành mà chị đã dự cảm năng lượng khủng khiếp của nó, cũng
không đơn thuần là do tiếp nhận ảnh hưởng của dòng văn chương theo
khuynh hướng chủ thuyết về tính chất phi nhân tính, phi-nhân của con
người từ các triết gia tiền bối J. Lacan hay J. Derrida (… ). Xây dựng
3
nên một thế giới nghịch đảo, chỉ bao gồm toàn cái ác và thống khổ, bẽ
mặt, vỡ lẽ, Linda Lê cảnh báo người đọc về những giá trị đang làm nên
tồn tại của con người: huyết thống, tình yêu, ràng buộc, nhận biết bản
thân… có thực sự là thế, hay chỉ là ảo tưởng, và còn tệ hơn, là sự Vu
khống?” [59].
Thu Thủy qua Linda Lê -trăn trở Viết và Chết đã đưa ra đánh giá:
“những trang viết của Linda Lê dường như chỉ tập trung thâu tóm hai
chủ đề chính: Viết và Chết! Thế giới mà nhà văn xây dựng nhuốm một
màu u tối và ảm đạm đến khó lường” [61]. Tác giả bài viết cũng khẳng
định khi viết về để tài cái chết, Linda Lê không hề nhấn chìm con người
vào hố sâu của sự tận tuyệt mà ngược lại hướng con người về ánh sáng
của sự sống.
Đào Như trong Linda Lê: Cuộc đời và tác phẩm đã khẳng định: đề
tài được lặp đi lặp lại trong tác phẩm của Linda Lê là “hình ảnh của một
xử sở cấm kỵ xa xưa, một người cha bị bỏ rơi, một người mẹ khuôn phép
hay một người tình hờ hững” trong đó “có những câu chuyện huyễn hoặc
siêu thực như trong các tác phẩm của Shakespeare, hay hàm chứa hoang
tưởng, ảo ảnh và hội chứng trầm cảm” [55].
Cũng đề cập đến sự độc đáo trong đề tài sáng tác, bài viết Linda Lê -
tác phẩm và sự tiếp nhận của Lan Dương bộc lộ một cái nhìn khá sâu sắc :
“Cô lấy hình ảnh dạ con và bào thai để chỉ cách thức các nhà văn thường
xây dựng hình ảnh gớm ghiếc của giai đoạn lịch sử thời thuộc địa, phần lịch
sử đã thấm sâu và tạo nên những trang viết của họ. (…) Sự loạn luân, sự lai
căng, sự lên ngôi nghiệt ngã của im lặng và cái chết. Sự trung thành với tổ
quốc, tất cả là nguồn gốc đau đớn của những bi kịch trong tác phẩm của Lê”
[47]. Ý kiến trên của Lan Dương đã góp phần khẳng định những ám ảnh về
chiến tranh, về thân phận lạc xứ luôn in dấu sâu sắc trong trái tim nhạy cảm
của Linda Lê, từ đó hình thành nên tâm thức sáng tác của bà.
Các nhà nghiên cứu và phê bình cũng quan tâm đến kĩ thuật sáng
tác điêu luyện của Linda Lê coi đó như là một biểu hiện của chủ nghĩa
hậu hiện đại trong tiểu thuyết.
Thu Thủy trong Linda Lê - trăn trở Viết và Chết đã lý giải yếu tố quan
trọng tạo nên sự thành công trong tiểu thuyết của Linda Lê - ngôn ngữ:
“Văn chương Linda Lê, dù ở đâu cũng kén người đọc. Nhưng một khi đã
đọc rồi thì sẽ thấy nó quyến rũ đến vô chừng. Người phụ nữ ấy viết văn
bằng thứ tiếng Pháp chuẩn mực, thậm chí là sử dụng nhiều từ cổ còn ít
người dùng ở Pháp, biến ngôn ngữ thành trò chơi với nhiều cách sắp đặt,
chơi chữ, đưa vào tiếng Pháp lối văn biền ngẫu của phương Đông cổ kính”
[61]. Bài viết đã đem đến một cái nhìn toàn diện về ngôn ngữ sáng tác của
Linda Lê để từ đó khẳng định tài năng văn chương của bà.
4
Dịch giả Nguyễn Khánh Long, người biết đến tiểu thuyết của
Linda Lê từ những năm 1997, cũng đưa ra những lời bàn rất xác đáng về
kĩ thuật sáng tác hiện đại và độc đáo của Linda Lê: “Sự độc đáo trước hết
nằm trong sự sử dụng tuyệt vời ngôn ngữ Pháp, cộng với, tôi dám nói là
di sản văn hóa phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Sau nữa,
đó là cái nhìn của Linda Lê về kiếp nhân sinh. Và tất cả đòi hỏi người
đọc “đặt lại vấn đề” về chính bản thân mình. Đọc Linda Lê, khi nắm
được những gì gởi gắm trong từng chữ, từng câu, phải nói đó quả là một
niềm hoan lạc” [50].
Những lời nhận định của tác giả Hữu Nam trong bài viết Tiếng nói
- độc thoại ám ảnh của Linda Lê đã gởi gắm cái nhìn khá chân xác về kĩ
thuật sáng tác của nữ văn sĩ: “Mạch truyện luôn được đẩy lên ở nhịp độ
cao khiến độc giả khó rời, chăm chú theo từng lời kể, từng diễn biến của
cốt truyện. Linda Lê còn dùng những ngôn từ mạnh, nâng cao tính tương
tác với thân phận nhân vật” [51].
Ban Việt ngữ Đài phát thanh quốc tế Pháp RFI trong bài giới thiệu
tiểu thuyết Sóng ngầm của Linda Lê từng nhận định: “Với một cấu trúc
khá lạ, bằng một giọng văn khi thì châm biếm, khi thì hài hước, nhưng
không thiếu phần thực tế, Linda Lê đưa độc giả đến với nhưng nhân vật
của mình bừng một văn phong nhẹ nhàng và đầy ý nhị. (…). Độc giả lại
càng thích thú hơn khi khám phá ở Linda Lê một nhà phù thủy, sử dụng
tài tình ngôn ngữ của Molière” [43]. Thời báo uy tín của Pháp Le Monde
cũng dành nhiều lời ngợi ca cho vãn sĩ: “Ngòi bút của Linda Lê rất tinh tế,
khắt khe, cổ ðiển, ðýợc thấm nhuần khả nãng phân tích sắc bén nhý là sự
kế thừa của dòng vãn chýõng thế kỷ 17…”. [44]. Những nhận xét trên đã
góp phần khẳng định tài năng thiên bẩm về ngôn ngữ của Linda Lê.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên
cứu về dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Linda Lê, tuy nhiên vấn đề
Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Linda Lê mới chỉ được các nhà
nghiên cứu đề cập mà chưa có những công trình nghiên cứu một cách hệ
thống. Vì thế, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề này với mong muốn đưa
ra một cái nhìn mang tính hệ thống về tâm thức hậu hiện đại, cái chi phối
sáng tác của Linda Lê làm nên đặc sắc về nội dung và nghệ thuật cho
tiểu thuyết của bà. Chúng tôi hướng tới khẳng định giá trị độc đáo của
tiểu thuyết Linda Lê, vai trò sự đóng góp của nhà văn đối với văn học
Việt Nam nói riêng, văn học thế giới nói chung.
3. Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố tƣợng nghiên cứu
Các tiểu thuyết của Linda Lê đã được dịch sang tiếng Việt, gồm:
Vu khống (2009), Nxb Văn học và Nhã Nam; Thư chết (2013), Nxb Văn
5
học và Nhã Nam; Tiếng nói (2017), Nxb Đà Nẵng; Sóng ngầm (2018),
Nxb Hội nhà văn và Nhã Nam.
Ngoài ra, để so sánh đối chiếu nhằm khẳng định đặc sắc trong tiểu
thuyết của Linda Lê, chúng tôi khảo sát thêm một số tác phẩm của các
nhà văn Thuận, Đoàn Minh Phượng, Viet Thanh Nguyen…
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Những biểu hiện của tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết của
Linda Lê.
4. P ƣơ p áp ê cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
4.1. P ƣơ p áp ệ thống - cấu trúc
Cấu trúc toàn bộ tiểu thuyết của Linda Lê thành một hệ thống hoàn
chỉnh; tiến hành khảo sát các tác phẩm trong tính hệ thống nhằm xem xét,
đánh giá tâm thức hậu hiện đại trong hệ thống đó.
4.2. P ƣơ p áp l ê à
Khảo sát sự tương quan giữa văn hóa và văn học trong tiểu thuyết
Linda Lê nhằm khám phá lý giải những biểu hiện của tâm thức hậu hiện đại.
4.3. P ƣơ p áp s sá - đối chiếu
Tìm ra nét tương đồng và dị biệt của tâm thức hậu hiện đại trong
sáng tác của Linda Lê trong tương quan với các nhà văn hải ngoại khác
như Đoàn Minh Phượng, Viet Thanh Nguyen, Thuận,… để thấy được
điểm độc đáo và sáng tạo của Linda Lê.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác.
5. Bố cục luậ vă
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Linda Lê trong dòng chảy tiểu thuyết Việt
Nam hải ngoại.
Chương 2: Cảm thức về cuộc sống và con người trong tiểu thuyết
Linda Lê.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tâm thức hậu hiện đại trong tiểu
thuyết của Linda Lê
CHƢƠNG 1
TIỂU THUYẾT LINDA LÊ
TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HẢI NGOẠI
1.1. Một số đặc đ ểm của tiểu thuyết Việt Nam hải ngoại
1.1.1. Mặc cảm vong thân và khát vọng hợp lưu, hội nhập
6
Trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại, những ám ảnh cội nguồn,
những hoài niệm quá khứ đã trở thành tiền đề cho nỗi cô đơn của con
người trong thực tại. Tình trạng lìa xa đất nước và tâm trạng nhớ nước đã
cố kết lại thành một mối u hoài sâu sắc trong lòng của những người xa
xứ khiến quá khứ trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong lòng họ. Họ
sống trong quá khứ và lấy quá khứ làm điểm neo tựa cho hiện tại. Quê
hương, do đó, trở thành một vùng kí ức không thể xóa nhòa trong tâm
thức của con người, đặc biệt là đối với các nhà văn. Ở đâu, họ cũng cảm
thấy lạc lõng. Cảm giác không thuộc về bất cứ đâu đã mang tới cho các
nhà văn mặc cảm của một trú dân với tâm thế vô xứ. Tâm thế ấy dồn đẩy
họ rơi vào tình trạng vong thân, vong bản. Sống trong nỗi cô đơn cội
nguồn và cô đơn bản thể, không tìm thấy người đồng cảm sẻ chia nên
các nhà văn Việt Nam hải ngoại gởi những nỗi hoang mang của mình
trên từng trang viết. Mặc cảm vong thân cũng vì thế trở thành một tâm
thức sáng tác nổi trội của họ. Trong vãn học hải ngoại Việt Nam, vong
thân thể hiện rõ nét với sự tha hóa biến chất tự đánh mất mình, biến
thành một mình khác của các nhân vật để có thể sinh tồn nơi đất khách.
Mặc cảm vong thân đẩy con người vào tình trạng tha hóa. Tha hóa
là tự biến thành, tự xem mình như một cái gì khác hoặc tự đánh mất bản
ngã của mình, sống cuộc đời không phải của mình và hành động theo
bản năng. Sống trên đất khách trong tâm trạng bơ vơ, lạc lõng các nhân
vật trong tiểu thuyết Việt Nam hải ngoại đã tự để mình trượt dài trong hố
sâu bi kịch, những mặc cảm và nỗi đau ẩn sâu bên trong tâm thức đã chi
phối và đưa đẩy họ vượt thoát mọi khuôn khổ, luật lệ. Họ mất niềm tin
vào cuộc đời và niềm tin vào bản thân. Họ chọn lối sống thác loạn nhằm
chống trả lại số phận bi kịch của một người xa xứ. Mặc cảm vong thân
cũng khiến con người mất dần bản tính thiện lương. Đó là một trong
những dấu hiệu suy thoái bản chất con người trong thời hiện đại. Họ trở
nên ích kỉ, vô liêm sỉ và tàn nhẫn với đồng loại. Họ bội phản chính mình
và chấp nhận thỏa hiệp với số phận để có thể sinh tồn. Mặc cảm vong
thân còn đẩy con người vào tình trạng sống cam chịu, chấp nhận số
phận. Họ thu mình lại trong thế giới của cô đơn và hoang mang do
chống chếnh, thiếu niềm tin.
Tiểu kết
Tóm lại, vong thân là nỗi ám ảnh thường trực với những thân phận
li hương. Vong thân khiến một số người rơi vào lối sống ngụy tín, cam
chịu hoặc tha hóa, biến chất và đầu hàng trước những cám dỗ của thực
tại. Sự cùng quẫn và bế tắc khiến họ tự đẩy mình tới tình trạng bị hủy
diệt. Nhưng đối với một số người khác, vong thân lại là điều tất yếu để
họ sinh tồn. Họ phải vùng vẫy trong bi kịch để không tự cào bằng chính
7
mình. Mặc cảm vong thân, cũng vì thế, trở thành một tiếng nói đầy nhân
văn trong dòng văn học hải ngoại và trở thành một trong những động cơ
thúc đẩy con người tri nhận, thức tỉnh và sáng tác.
Xu hướng mở cửa hòa nhập với thế giới của Việt Nam trong
những năm gần đây đã tạo điều kiện cho bạn đọc trong và ngoài nước
tiếp cận, giao thoa văn hóa, văn học. Đối thoại và hòa giải được thay thế
cho đối đầu, nên đường biên ranh giới vô hình giữa văn học trong nước
và văn học Việt Nam hải ngoại đang mờ dần. Chính vì thế, khát vọng
hợp lưu, hội nhập đã dần thay thế cho xu hướng dị biệt và tách rời. Theo
Võ Phiến, văn học Việt Nam hải ngoại sẽ không thể tồn tại lâu dài nếu
không liên hệ với cội rễ của nó. Như vậy, hợp lưu hội nhập được dùng
để thể hiện khát vọng của một số nhà văn trong và ngoài nước là văn học
hải ngoại cần được nhìn nhận như một bộ phận của văn học Việt Nam.
Mong muốn “trở về” của các nhà văn Việt Nam hải ngoại cũng phù hợp
với quy luật chung của giai đoạn toàn cầu hóa khi những mối quan hệ
giữa trong và ngoài nước được mở rộng và một số cái nhìn định kiến về
văn học Việt Nam hải ngoại đang dần thay đổi.
Dẫu có thể còn nhiều khó khăn trong quá trình kiểm duyệt nội
dung nhưng trong những năm đầu của thế kỉ XXI, trung tâm Văn hoá và
ngôn ngữ Đông Tây, các công ty Phương Nam và Nhã Nam, nhà xuất
bản Hội nhà văn,… cũng đã có những nỗ lực tích cực trong việc dịch
thuật và in ấn nhiều ấn phẩm đạt giải thưởng quốc tế của các nhà văn hải
ngoại như Linda Lê, Viet Thanh Nguyen, …đó là một nỗ lực không
ngừng của giới trí thức trong nước để tiến gần hơn với văn học hải ngoại.
Dẫu có một quốc tịch khác hay viết bằng những ngôn ngữ khác như
trường hợp của Đinh Linh, Linda Lê,… thì tâm thức của các nhà văn
Việt Nam hải ngoại vẫn mang dấu ấn Việt và bản sắc cội nguồn nên các
tác phẩm của họ nhanh chóng được một bộ phận trí thức trong nước tiếp
nhận và đón đọc.
Bên cạnh khát vọng hợp lưu với văn học trong nước, văn xuôi Việt
Nam hải ngoại cũng tìm nhiều con đường để hợp lưu, hòa nhập với văn học
bản địa. xu hướng toàn cầu hóa sôi nổi trong những năm đầu của thế kỉ XXI
đã tạo điều kiện thuận lợi để văn học hải ngoại Việt Nam đổi mới phương
thức sáng tác, mở rộng trình độ tư tưởng - nghệ thuật. Một số nhà văn thuộc
thế hệ thứ hai viết bằng tiếng Việt như: Trần Vũ, Mai Ninh ở Pháp; Nam
Giao ở Canada; Ngọc Khôi, Hoàng Mai Đạt, Phạm Thị Ngọc, Dương Như
Nguyện, Vũ Quỳnh N.H, Đỗ Kh., Bùi Diễm Âu ở Mỹ;… cũng khá thành
công trong việc hòa nhập với văn chương bản xứ. Sáng tác của họ thường
viết về cuộc sống ở vùng đất định cư với tâm thế thoải mái. Họ tự tin bộc lộ
tình cảm, khát vọng của chính mình nơi đất khách.
8
Một bộ phận các nhà văn hải ngoại cũng chọn sáng tác bằng tiếng
bản địa hoặc tiếng Anh, tiếng Pháp. Đây cũng có thể là một công cụ giao
tiếp để giúp họ dễ dàng hội nhập với dòng chảy văn chương nơi họ đang
sinh sống. Thế hệ các nhà văn này cũng giành được nhiều giải thưởng
lớn của văn học chính quốc. Điều này đã góp phần khẳng định tài năng
và nỗ lực hòa nhập của các nhà văn hải ngoại Việt Nam.
T ểu ết
Tóm lại, khát vọng hợp lưu, hội nhập là một khát vọng đầy tính
nhân văn của văn học hải ngoại Việt Nam nói riêng và văn học di dân
thế giới nói chung. Nó cũng là nhu cầu tất yếu để tồn tại của văn học hải
ngoại Việt Nam trong thời đại 4.0. Tuy còn nhiều khó khăn do khoảng
cách về mặt địa lí và nhận thức nhưng khát vọng này bước đầu đã đạt
được những thành tựu cơ bản. Những thành tựu này đã góp phần làm cho
sự giao lưu văn học trong - ngoài nước trở nên sôi động hơn. Nhưng có
lẽ, thành tựu quan trọng nhất đó là sự gắn kết, hòa điệu và thấu hiểu về
mặt nhận thức, tình cảm giữa người Việt trong nước và nước ngoài. Sợi
dậy tình cảm kết nối dân tộc nhờ đó cũng sẽ vững bền hơn.
1.1.2. Thay ðổi khung tự sự truyền thống
Thay đổi đầu tiên của tiểu thuyết thể hiện ở sự tinh gọn về dung lượng
với hình thức tiểu thuyết ngắn. Đặc trưng của tiểu thuyết ngắn là tính phân
mảnh, tính triết lý và tính thơ. Tính phân mảnh thể hiện qua hiện tượng phân
rã cốt truyện. Với xu hướng kết cấu tâm lý, cốt truyện trong tiểu thuyết Việt
Nam hải ngoại có hiện tượng biến dạng và phân rã. Các nhà tiểu thuyết
không còn duy trì tính thống nhất trong trình tự thời gian và nhân quả của
chuỗi sự kiện gắn với hành động của nhân vật chính mà xây dựng những
kiểu tự sự tan vỡ thành một chuỗi lắp ghép các phân đoạn, các mảnh vỡ
trong cuộc đời nhân vật. Truyện chỉ gồm các đối thoại, rất ít lời dẫn truyện.
Các sự kiện trong tác phẩm dàn trải và không có điểm nhấn, không có cao
trào và các tầng bậc ý nghĩa của truyện chìm sâu dưới lớp vở ngôn từ, người
đọc tự mình giải mã, khám phá.
Tiểu thuyết còn mở rộng địa hạt sang thơ để bộc bạch, giãi bày
những nỗi niềm tâm trạng một cách trực tiếp và giàu tính thẩm mĩ. tác
giả luôn chú trọng khai thác nhịp điệu trong văn xuôi bằng nguyên lý
“lặp lại” các cặp nhân vật. Nhân vật được xây dựng không theo nguyên
tắc điển hình hóa mà theo nguyên tắc trò chơi. Chất thơ còn được các tác
giả chú trọng khắc họa bằng những hiện thực hoài niệm, tiếc nuối và sầu
cảm qua kĩ thuật dòng ý thức.
Hỗn dung thể loại còn được thể hiện qua sự kết hợp giữa tiểu thuyết
và tự truyện hoặc giả tự truyện. Trong tiểu thuyết của Linda Lê, Thuận,…
tiểu sử của các nhân vật gần như trùng khít với tiểu sử của tác giả.
9
Tiểu kết
Tóm lại, sự thay ðổi khung tự sự truyền thống của tiểu thuyết thể
hiện sự tiếp cận và ðổi mới mạnh mẽ của thể loại trên hành trình tự hoàn
thiện mình. Sự thay ðổi này là tất yếu và phù hợp với sự biến chuyển của
ðời sống lịch sử - xã hội. Ðồng thời, sự thay ðổi này cũng góp phần không
nhỏ trong việc tái hiện tâm tý, tình cảm của con ngýời hiện ðại. Khi con
ngýời ðỗ vỡ niềm tin, không tìm ðýợc nõi ðể bấu víu thì vãn chýõng vẫn
luôn là mảnh ðất màu mỡ ðể níu kéo nhân tính của con ngýời, ðể giúp họ
tìm về bản nguyên ðích thực của mình. Nhýng nếu vãn chýõng vẫn chỉ nói
về những “cái cũ”, chỉ hoài cổ và ngợi ca những ðiều phi thực tế thì sợi
dây níu kéo ấy ắt hẳn sẽ ðứt gãy.
1.2. Linda Lê - à vă độc đá và ị biệt
1.2.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật
Linda Lê sinh năm 1963 tại Đà Lạt. Cha bà là một kĩ sư, mẹ bà
xuất thân trong một gia đình khá giả có quốc tịch Pháp. Thời thơ ấu,
Linda Lê sống ở Đà Lạt cùng gia đình. Năm 1969, gia đình di chuyển về
Sài Gòn để tránh chiến tranh. Linda Lê theo học trường trung học Pháp
tại Việt Nam. Năm 1977, Linda Lê cùng mẹ và các chị em sang định cư
tại Le Havre (Pháp). Năm 1981, Linda Lê lên Paris theo học các “lớp dự
bị văn học”, sau đó vào học tại đại học Sorbonne.
Năm 23 tuổi, Linda Lê đã cho xuất bản tác phẩm đầu tay Sự dịu dàng
của ma cà rồng (1986). Năm 1992, tiểu thuyết Phúc âm tội ác đã tạo ra
một tiếng vang lớn trên văn đàn. Khoảng hai mươi năm kế tiếp, Linda Lê
đã khẳng định tên tuổi của mình với hàng loạt tiểu thuyết (Vu khống -
1993, Lời tên khùng - 1995, Ba nữ thần số mệnh – 1997, Tiếng nói -
1998, Thư chết - 1999, Sóng ngầm - 2012), truyện dài (Những buổi rạng
đông - 2000, Người - 2003, Tưởng niệm - 2007, truyện ngắn (Lại chơi
với lửa - 2002), tiểu luận (Mặc cảm Caliban - 2005)… Từ năm 2009 đến
nay, một số tác phẩm của Linda Lê đã được chuyển ngữ và xuất bản ở
Việt Nam, gây được ấn tượng tốt với bạn đọc (tập truyện ngắn Lại chơi
với lửa - Nguyễn Khánh Long dịch năm 2010 và các tiểu thuyết Vu
khống - Nguyễn Khánh Long dịch năm 2009, Thư chết - Bùi Thu Thủy
dịch năm 2013, Tiếng nói - Nguyễn Đăng Thường dịch năm 2017, Sóng
ngầm - Hồ Thanh Vân, Bùi Thu Thủy dịch năm 2018).
Linda Lê từng đoạt nhiều giải thưởng văn chương lớn như Giải
thưởng Vocation (Tài năng), năm 1990; Giải Renaissance de la Nouvelle
(văn chương sáng tạo), năm 1993; Giải thưởng Fénéon, năm 1997. Đặc
biệt, năm 2007, tác phẩm Hồi tưởng đã được Viện Hàn lâm Pháp trao
tặng giải thưởng Prix Femina và giải nhất giải thưởng Grand Prix.
Ngoài ra, tác phẩm Sóng ngầm của nữ văn sĩ đã từng vào tới vòng chung
10
kết giải thưởng văn học uy tín hàng đầu của nước Pháp - giải Goncourt
năm 2012.
Tác phẩm của Linda Lê đã được dịch ra các thứ tiếng như Anh, Bồ
Đào Nha, Hà Lan. Và Linda Lê “hiện là cái tên được nhắc tới nhiều nhất
ở mảng văn học “Francophone Vietnamese Literature” (Văn học Pháp do
nhà văn Việt sáng tác)”.
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật
Viết với Linda Lê là hành trình tự lưu đày bản thân và cũng là
hành trình đổi mới, sáng tạo không ngừng. Viết bằng ngôn ngữ nào đối
với nữ văn sĩ không quan trọng, mà vấn đề trọng tâm của văn chương
phải là gột rửa lại nhận thức đã bị nhiễm độc của con người, để họ nhìn
sâu và khám phá đến tận cùng “thiên lương trong lành” của con người.
Viết với Linda Lê còn là hành trình “nổi loạn chống lại một trật tự sự vật
nào đó, nhưng cũng là để cứu giữ quá khứ và tái tạo tương lai”.
Linda Lê quan niệm con người là một thực thể bí ẩn, dị biệt, độc
đáo và duy nhất. Chính vì vậy họ rất dễ trở nên nhỏ bé, hẹp hòi và tự
xem mình là trung tâm. Con người rất khó vượt qua bản ngã cá thể để đi
tiếp nhận những cá thể khác. Sự bảo thủ và cố chấp sẽ khiến con người
không thể đi tới một quan niệm mở, tiếp nhận những sự biến động vô
cùng của cuộc sống và tri thức. Chính vì vây, Linda Lê nhìn nhận mức
độ hoàn thiện bản thân con người phụ thuộc vào việc họ kiềm chế những
nỗi ám ảnh của kẻ thù bên ngoài, nên thiết yếu là phải chiến thắng kẻ thù
bên trong.
Chịu ảnh hưởng của cảm quan hậu hiện đại, Linda Lê xem tiểu
thuyết như một trò chơi tự sự và đặc trưng của thể loại “chưa hoàn tất”
nên người viết tiểu thuyết không bị bó buộc bởi những khuôn khổ của
thể loại. Nhà văn thỏa sức lựa chọn các chiến thuật chơi, thực hiện
những cuộc kiếm tìm, những thử nghiệm nghệ thuật mới. Với quan niệm
tiểu thuyết là một cuộc chơi ngôn từ, Linda Lê vận dụng triệt để kĩ thuật
dòng ý thức. Thủ pháp độc thoại nội tâm kết hợp với hình thức giản lược
đối thoại khiến cho các tác phẩm được tinh gọn đến mức tối đa về dung
lượng câu chữ.
Tiểu kết
Tóm lại, Linda Lê là một nhà văn có nhiều quan niệm mới mẻ về
văn chương. Những quan niệm ấy được lồng ghép và thể hiện trong tác
phẩm bằng những kĩ thuật sáng tác hiện đại và bằng tài năng thiên bẩm
của nữ văn sĩ. Quan niệm văn chương đó chịu sự chi phối của cảm quan
thời đại những tất yếu nó xuất phát từ kiến thức sâu rộng và từ lòng đam
mê văn chương máu thịt của tác giả.
1.2.3. Tiểu thuyết Linda Lê - “văn chương đẹp dị thường”
11
Các nhân vật trong tác phẩm ðều bị ám ảnh bởi sự viết và sự chết.
Họ viết một cách ðiên rồ, say sýa và cực ðoan. Họ khỏi ðầu bằng việc viết
lách và kết thúc bằng cái chết. Nhýng với Linda Lê, chết không phải là kết
thúc bi quan mà chết ðể tìm về khởi ðầu của sự sống. Cái đẹp của chủ
nghĩa khốn khổ thấm đẫm trên từng dòng chữ của văn sĩ.
Sáng tác của Linda Lê thường mang những biểu tượng của chế độ
thực dân. Con quái vật đó, trong lòng của tác giả, là một gánh nặng
không dễ gì xóa bỏ. Linda Lê luôn cho rằng, tận nơi sâu kín nhất của mỗi
con người luôn tồn tại hai trạng thái tương phản: một kẻ bảo thủ, thiển
cận luôn nhốt mình trong những suy nghĩ ấu trĩ, lạc hậu và một kẻ tiên
phong tấn công vào mọi thành trì để hướng tìm cái mới.
Cái đẹp “dị thường” trong tiểu thuyết của Linda Lê còn được kiến
tạo bằng những lời độc thoại, sám hối đầy ám ảnh. Những câu văn ngắn,
bức bối, nối nhau thành hàng như một lời ăn năn đã tạo ra sự ám ảnh cho
tác phẩm. Mạch truyện cũng luôn được đẩy lên cao trào với nhịp độ căng
thẳng đến đáng sợ. Linda Lê luôn để cho các nhân vật của mình triền
miên trong những dòng nội tâm giằng xé, đau đớn và tuyệt vọng.
Tiểu kết
Tóm lại, nhãn quan thẩm mĩ của ngýời ðọc ðýợc nới rộng ðến vô
cùng khi tiếp nhận các tiểu thuyết của Linda Lê nhờ vẻ ðẹp dị thýờng và kĩ
thuật sáng tác ðộc ðáo của chúng. Bởi mỗi tác phẩm ðều là sự kết tinh tài
nãng, tâm huyết và cả những nỗi ám ảnh tận sâu trong vô thức của nhà vãn.
Ðó là sự thãng hoa của vô thức sáng tạo. Ðó là mõ ýớc ðậm tính nhân vãn
về việc tái tạo một thế giới tốt ðẹp thông qua hành trình tự tìm về tận sâu
trong bản ngã và tự hoàn thiện mình của mỗi con ngýời.
CHƢƠNG 2
CẢM THỨC VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT LINDA LÊ
2.1. Cuộc sống - sự “ ịc đảo các giá trị”
2.1.1. Thực tại bất trắc, hỗn loạn
Khảo sát tiểu thuyết của Linda Lê, ta có thể thấy, hạt nhân cốt lõi
trong sáng tác của nữ văn sĩ là ý niệm về một thế giới hỗn độn, phân
mảnh, chắp vá, phi trung tâm, một thế giới mở đến vô cùng để con người
tự khám phá và nhận thức chính mình. Thực tại mà nữ văn sĩ tái hiện
trong tác phẩm thường có sự đan xen giữa thực và ảo.
Các nhân vật luôn bị đặt trong một trung tâm khủng hoảng hoặc trong
một sân khấu. Trong sân khấu đời ấy, mỗi người được giao một vai diễn
để tự mình lựa chọn, để tự mình cất lên một tiếng nói riêng. Nhìn bề
ngoải ta tưởng họ như đang nói với nhau nhưng khi đi sâu vào bên trong,
nhập vai vào vở kịch, ta nhận ra mỗi lời là một cơn điên loạn, rối bời, vô
12
nghĩa của những cá nhân riêng lẻ. Những kiếp người nhỏ bé như đang
từng ngày từng giờ chống chọi với nỗi bất an khi không có một nơi chốn
bình yên để sinh tồn. Bởi trong tâm thức của nữ văn sĩ, những điều từ
trước đến nay được xem là chân lí vốn chỉ là những áp đặt và cưỡng chế
của số đông đối với một người nào đó. Việc hiểu, chấp nhận và tin theo
đã dẫn tới tình trạng nhận thức của con người “bị nhiễm độc”. Họ cần
được gột rửa và thanh tẩy để phá tan những ảo tưởng về những giá trị
cuộc sống để có thể tìm về bản chất nguyên sơ nhất của mình, để được
tri nhận thế giới theo cách của mình.
2.1.2. Lối sống phi lí, vô luân
Lối sống phi lí, vô luân bộc lộ rõ qua việc Linda Lê xây dựng một
thế giới nhân vật rối loạn và đầy những ẩn ức, những kiểu người nghịch
dị, tự tách biệt mình khỏi thực tại với những nỗi đau từ sâu xa trong quá
khứ ám ảnh đầy hoảng loạn. Họ hầu như không có tên, không có khuôn
mặt và mất hết cá tính
Trong tâm thức sáng tạo của nhà văn, gia đình không còn là chốn
nương thân bình yên của con người. Thậm chí, nó còn trở thành tác nhân
đẩy con người vào vòng xoáy vô định của cuộc sống, buộc họ phải tự đối
diện, tự vật lộn. Những người cùng chung dòng máu tìm mọi cách hãm
hại lẫn nhau, chà đạp lên nhau để sinh tồn. Hôn nhân cũng không còn là
sợi dây kết nối để mang lại hạnh phúc cho con người mà là “nấm mồ”
chôn vùi tuổi trẻ, tự do và cả niềm tin cho dù xuất phát điểm của nó là
tình yêu say mê, mãnh liệt.
Lối sống phi lí, vô luân còn được hiện thực hóa thông qua sự vong
thân, tha hóa của các cá thể di dân. Các giá trị đạo đức lung lay khi con
người vì chạy trốn nỗi cô đơn bi thương, vì muốn thoát khỏi mặc cảm bị
chối bỏ, muốn tìm lại bản thân đã tìm mọi cách để nổi loạn, chống trả lại
các giá trị. Đạo đức suy giảm đã tạo điều kiện cho con người phơi bày
một cách hiển nhiên hành vi tàn ác của mình. Cái ác tồn tại một cách
ngang nhiên và công khai như là một phần không thể thiếu của thế giới.
Tiểu kết
Trong các tiểu thuyết của mình, bản thể sơ khai nhất của con người
được Linda Lê bóc trần từng lớp, từng mảnh. Con người vốn dĩ cô đơn
và yếu đuối nên dễ dàng trở thành miếng mồi ngon của cái ác. Trong
khuôn khổ chật hẹp của nhận thức, sự tri nhận một chiều về cuộc sống,
con người nhận thức được cái ác nhưng không phải lúc nào cũng có thể
tự bảo vệ mình mà nhiều khi còn bị những thứ “mang danh” cái Thiện
bóp nghẹt, khống chế. Điều này có nghĩa là, để có thể tự nhận thức đúng
đắn về chính mình con người cần có sự nhìn nhận một cách chân xác về
các giá trị trong đời sống.